Glom_Knight
25-12-2009, 11:43 PM
Mất đi và lấy lại được
Tôi nhớ những lần trót làm mất cái gì lại chạy về nói ngay với mẹ. Mẹ chẳng bao giờ mắng tôi mà chỉ căn dặn lại về sự cẩn thận, ngăn nắp. Hôm sau, tôi lại được mua món đồ mới thay thế, lại vui, lại tung tăng đi chơi và (lại) có thể sẽ đánh mất đồ, lại cẩu thả thêm một hay nhiều lần nữa.
Trong tôi ngày đó hình thành nên cái suy nghĩ về những điều "Mất đi và lấy lại đuợc" vì rõ ràng, tôi chưa bao giờ có cảm giác "mất hoàn toàn" cả, tôi đã có mẹ, người lấy lại tất cả.
Mẹ như bà tiên trong giấc mơ, là người biến phép màu xung quanh những tháng năm lớn lên của tôi. Chợt nhận ra, tuổi thơ của mỗi con người như những hạt màu óng ánh nằm trong chiếc đồng hồ cát, dù có dốc ngược dốc xuôi tới mấy thì chúng vẫn ở yên trong khối thủy tinh, để được bảo vệ và nâng niu - Tuổi thơ hay còn là quãng thời gian của những điều không mất đi...
Mất đi và không lấy lại được
Thành "người lớn", "phép màu", "cổ tích" cũng dần lùi vào góc kỉ niệm. Mới đầu là sự ngỡ ngàng - sững sờ, nhưng rồi tôi cũng phải quen và học cách chấp nhận thực tế: có những cái Mất đi và không lấy lại được, những điều quí giá rời xa, khiến trái tim bạn mệt mỏi...
Đó là lần đầu tiên tôi "cảm nhận" được nỗi đau mất người thân, khi bà ngoại qua đời. Buổi chiều Chủ nhật năm 2002, khi đang ngồi cũng chúng bạn thì tôi nhận được điện thoại của anh: "Bà ngoại đi cấp cứu..., em lên Bệnh viện 354 ngay nhé!". Ngay lập tức tôi phóng xe và vẫn hy vọng sẽ có điều kì diệu xảy ra. Nhưng số phận thật trớ trêu, trên đường đi, anh tôi đã báo tin xấu nhất có thể... Vậy là tôi không được gặp Ngoại lần cuối...!?
Nhưng có lẽ số phận cũng không quay lưng lại với tôi quá phũ phàng. Mới ngày hôm qua thôi, run rủi thế nào tôi qua thăm Ngoại... Lúc về, Ngoại mới nói dạo này thỉnh thoảng thấy nhói tim nhưng khi đó thấy da dẻ Ngoại vẫn hồng hào, giọng nói vẫn khỏa khoắn, ăn uống vẫn đầy đủ nên tôi chỉ chúc Ngoại khỏe mạnh mà thôi... Tôi còn nhớ ánh mắt dịu dàng, dáng đi thanh cao và giọng nói ấm áp của Ngoại trong lần cuối cùng đó... Ai ngờ, Ngoại đã mất vì chính điều Ngoại đang lo ngại khi đó... Ngày viếng Ngoại, hàng nghìn người đã tới như đủ để chứng minh cả cuộc đời của Ngoại đã hết lòng vì con cháu và cộng đồng...
Mỗi khi nghĩ về Ngoại, chút nuối tiếc lại khẽ lay động như một vết thương còn chưa lành hẳn. Thế mới hay, những người thân thật quan trọng với mỗi người. Bởi vậy, dù có bận rộn thế nào, cũng cần dành thời gian để ở bên họ, để chia sẻ và được chia sẻ. Từng giây phút trôi qua của cuộc sống quý giá hơn gấp vạn lần, khi bạn biết được rằng, có nhiều lắm, những điều "Mất đi và không lấy lại được".
Mất đi và không muốn lấy lại
Mọi thứ trong cuộc sống của bạn đều thật đáng trân trọng. Nhưng có nhất thiết phải cố gắng giữ lại tất cả ở bên mình? Câu trả lời là: Không, không thể và không nên.
"Không thể" là bởi bạn chẳng bao giờ lường trước được điều gì sắp xảy đến với mình: niềm vui hay nỗi buồn? Thành công hay thất bại? Tôi từng rất hụt hẫng khi nhận ra, có người mình rất tin tưởng, yêu mến và trân trọng, đã quay lưng đi trong những lúc bạn tôi cần nhất. Lúc ấy, tôi buồn và chới với biết mấy. Rối bời tới mức còn hy vọng, họ sẽ quay lại. Nhưng rồi chẳng có bàn tay nào ở đó, tôi ngã. Ngã đau...
Một thời gian dài trôi qua, tôi vùi đầu vào việc khác để lãng quên. Vết thương lành hẳn, tôi tự đứng dậy, tự bước tiếp, vững vàng và cẩn trọng hơn. Chính sự vô tình của người khác, chính các cú ngã đau đã nói lên rằng, có những điều mất đi mà bạn chẳng bao giờ muốn lấy lại. Chúng làm bạn đau, tổn thương ít hay nhiều nhưng không mảy may để lại chút tì vết nào. Chỉ là sau mỗi lần ngã đau, bạn lại trưởng thành hơn một chút mà thôi...
Có nên chăng, "đánh mất" những thứ không thuộc về mình?
Có một số người bạn của tôi viết nhật ký, blog khá nhiều về "Những điều mất đi". Đó là một việc làm thú vị mà ai cũng có thể làm. Chúng ta viết ra không cần với một cảm xúc đặc biệt hay triết lý cao siêu gì. Đơn giản, nó như một cái timeline đặc biệt của người trẻ tuổi. Vì càng lúc, chúng ta sẽ càng ít hơn những điều mất đi, càng ít những tiếc nuối...
Tình bạn là thế nào...
Một chuyến tàu ngoài khơi gặp bão và bị đắm. Có hai người dạt đến một hoang đảo. Cả hai đã nhiều lần làm thuyền nhưng không lần nào thành công. Cuối cùng, họ đồng ý với nhau là cùng ngồi cầu nguyện. Mỗi người sẽ ở một nửa hòn đảo xem lời cầu nguyện của ai sẽ linh nghiệm.
Đầu tiên, người thứ nhất cầu nguyện có được thức ăn. Sáng hôm sau, người thứ nhất tìm thấy một cây có nhiều quả rất ngon nên anh ta không còn phải lo lắng đi tìm thức ăn nữa. Ở phần bên kia hòn đảo, đất vẫn khô cằn và người thứ hai không tìm được gì cả.
Hết một tuần, người thứ nhất cầu nguyện cho có bầu bạn. Chỉ sau một ngày, ở bên đảo của người thứ nhất có một chiếc tàu khác bị đắm và một người phụ nữ dạt vào. Hai người chuyện trò cho bớt cô đơn, còn ở phần bên kia hòn đảo, người thứ hai vẫn không có gì khác.
Liên tục ngững ngày sau đó, người thứ nhất cầu nguyện được căn nhà, quần áo ấm và nhiều thức ăn hơn. Phép màu lại xảy ra. Những gì anh ta ước thường xuất hiện ngay vào buổi sáng ngày hôm sau. Tuy nhiên, vẫn không có gì khác xảy ra ở phần đảo của người đàn ông thứ hai.
Cuối cùng, người thứ nhất và người phụ nữ - nay đã là vợ anh ta- cầu nguyện có một chiếc tàu. Sáng hôm sau, một chiếc tàu lớn xuất hiện trên bãi biển. Người thứ nhất dẫn vợ mình lên tàu và quyết định bỏ người thứ hai ở lại trên đảo. Anh ta nghĩ rằng người kia không đáng được nhận bất kì tứ gì anh ta có được từ những lời cầu nguyện riêng của anh ta.
Khi chiếc tàu chuẩn bị rời bến, bỗng người thứ nhất nghe thấy có tiếng nói vang lên từ không trung:
-" Tại sao ngươi lại bỏ bạn mình?".
Người thứ nhất thản nhiên cao giọng:
-"Tất cả mọi thứ đều do tôi cầu nguyện mà có. Anh ta chẳng cầu nguyện được gì cả nên anh ta không xứng đáng để đi cùng tôi."
-"Ngươi sai rồi" – giọng nói vang lên trách móc – " Từ đầu đến cuối, anh ta chỉ ước có một điều và ta đã thực hiện cho anh ta điều ước ấy".
Người thứ nhất rất ngạc nhiên:
-"Hãy cho tôi biết anh ta đã ước gì vậy?"
-"Anh ta đã ước rằng những lời cầu nguyện của ngươi được biến thành sự thật!" ....
Do you fear death?
Hồi còn bé, có lần tôi đã khóc khi nghĩ đến một ngày, cái chết sẽ đến và mang tôi đi. Tôi khóc vì sợ. Tôi thừa nhận là tôi sợ chết. Tôi sợ, sau khi chết đi, tôi sẽ chỉ còn một mình dưới đất lạnh, tôi sợ rằng tôi sẽ không được sống lại một cuộc sống khác, tôi sợ mọi người sẽ quên mất tôi khi thời gian qua đi.
Tôi cảm thấy sợ khi lần đầu tiên nhận biết được thân phận nhỏ nhoi của mình trước sự vô biên của thời gian, tôi chẳng là gì cả, chỉ là một hạt bụi trên mặt đất này thôi, và trước tôi đã có biết bao nhiêu hạt bụi rơi rớt trên mặt đất này, để một ngày kia, khi cơn gió số mệnh thổi đến, họ cũng đã biến mất như chưa bao giờ tồn tại. Cái ý nghĩ đó làm tôi sợ, tôi tự hỏi: "Vậy tôi được sinh ra để làm gì? Chẳng lẽ tôi được trao cho một mạng sống chỉ để cố sức giữ gìn nó cho đến khi nó rời bỏ tôi?". Mọi thứ đều trở nên vô nghĩa. Tôi không biết mình đang cố gắng vì điều gì, khi một ngày kia, cái chết sẽ đến và xoá sạch mọi thứ. Vô nghĩa, cõi đời như một giấc mộng phù phiếm. Tôi không biết tại sao tôi phải chết!
Tôi đã khóc và ôm lấy mẹ tôi mà hỏi: "Tại sao khi già đi sẽ phải chết hả mẹ?" Mẹ dỗ dành tôi và nói: "Con người ta, ai mà chẳng phải chết, cái chết là một phần của cuộc sống, nhưng cái chết không quan trọng, cái quan trọng là sự sống, ta phải sống làm sao để khi chết đi ta không cảm thấy áy náy, cảm thấy hối tiếc". Lúc ấy tôi không hiểu lắm những điều mẹ dạy, nhưng giọng nói của mẹ làm tôi cảm thấy yên lòng.
Đến khi đã lớn hơn. Tôi hiểu ra rằng: mọi sinh vật khi được sinh ra đều có mục đích sống. Hãy quan sát những con kiến, chúng chỉ sống được 6 tháng, nhưng chúng có than phiền gì về đời sống ngắn ngủi của chúng đâu, chúng chăm chỉ hoàn thành công việc của mình: xây dựng tổ kiến. Và khi chúng chết đi, cái tổ kiến kia vẫn còn, chắc hẳn khi một con kiến chết đi, nó sẽ không có gì để phải vương vấn, vì nó đã hoàn thành mục đích sống của mình. Tôi hiểu ra rằng, tôi được sinh ra không chỉ đơn thuần để sống, mà còn để hoàn thành mục đích sống của mình, để khi thời gian có xóa sạch mọi thứ thì sẽ vẫn còn một tí gì của tôi rơi rớt lại trên cõi đời này. Phải chọn cho mình một mục đích sống thôi.
Khi nhắc đến cái chết hoặc sự chết chóc thì hầu như ai cũng sợ. Giống như Trịnh Công Sơn đã viết "Tôi nay ở trọ trần gian... trăm năm về chốn xa xăm cuối trời". Đúng vậy, mỗi một con người đều là "khách trọ" trong thế gian này mà thôi. Đã biết, mình được đến đây và có lúc phải đi. Nhưng có những người cả đời an phận, cuối cùng cũng chết, cả một đời người tan biến như mây khói. Có những người sống có lí tưởng, dám đấu tranh đến cùng để bảo vệ những gì mình cho là đúng, dù phải đánh đổi bằng mạng sống, mạng sống của họ không mất đi một cách vô nghĩa, một cái chết đẹp.
Khi con người ta sinh ra đời, mọi người xung quanh cười còn đứa trẻ lại khóc. Và khi con người ta nhắm mắt buông xuôi tất cả, mọi người khóc còn đứa trẻ đó qua bao nhiêu năm đã có thể mỉm cười. Trông khuôn mặt họ mới thanh thản làm sao!. Chúng ta sẽ khóc và sẽ tiễn đưa, nhưng hãy nhớ rằng: "Ai cũng một lần sinh và một lần tử". Họ sẽ sống khi quãng đường đời còn cho sống và họ sẽ đi khi họ không thể đứng vững trên cuộc đời. Họ đang mệt mỏi và họ cần một thế giới tâm linh cho riêng mình. Họ đã chọn cái chết và để lại từ phía sau những nỗi đau cho nhân loại, cho người thân yêu. Nhưng trong tâm họ vẫn luôn cảm nhận và mang theo những gì ta đã dành cho họ. Hãy sống sao cho thật giống với cuộc sống mà thế giới đã ban chọn cho mình, bạn nhé!
Opposite and stand up.
Người ta nói : Khi một người có cái chân đau thì họ chỉ nghĩ về cái chân đau đó.. Điều đó có lẽ đúng. Một người đau, người ta chỉ nghĩ đến nỗi đau của mình, đau khổ vì nó, ôm khư khư nỗi đau đó, và thậm chí không muốn cho ai động vào. Họ tự dằn vặt mình và tỏ vẻ không muốn để người khác giúp đỡ, họ vô tình hay cố ý làm những người xung quanh khó xử hoặc buồn lòng. Nói thật, đấy không phải là mạnh mẽ gì, mà chẳng qua đấy là sự kém cỏi, kém cỏi và hèn vì nghĩ rằng mình không thể vượt qua được và cũng vì thế mà sinh ra tính tự phụ, bất mãn, nằm đó gặm nhấm nỗi đau. Hèn kém đến nỗi ngay cả tự bản thân cũng không muốn vượt qua, hạn chế mình ngay cả trong suy nghĩ ...chỉ muốn sống mãi với quá khứ đau buồn, chán chường với hiện tại và bi quan về tương lai ...
Bạn ah...khi có nỗi đau thì phải cố gắng mà đứng dậy, vượt qua nó, chứ không phải là cứ để nó ngày càng nặng hơn, càng không thể chữa nổi. Ngã rồi thì phải biết đứng dậy, đứng dậy mà đi tiếp chứ ko phải nằm ì ra đó mà kêu, mà khóc... Vẫn biết chẳng có người mạnh mẽ, chỉ có người cố tỏ ra là mình mạnh mẽ, nhưng tỏ ra mình mạnh mẽ không phải là bằng cách bất cần, để mặc mọi chuyện muốn đến đâu thì đến, để suốt ngày chỉ nói: kệ tôi, mọi người đừng quan tâm đến tôi, đấy là chuyện riêng của tôi....
Hãy để nỗi đau đó vơi đi với quá khứ, với một miền xa xăm nào đó trong thâm tâm. Để thỉnh thoảng đôi khi nhớ sẽ lại có cảm giác nhói đau , nhưng đau để nhớ, đau để tránh, đau để ko bao giờ bị đau như vậy - Và lúc đó hãy mỉm cười, không lãng quên vì nó đã là quá khứ. Hãy làm sao sống trọn vẹn với hiện tại và hướng thẳng tương lai...
Đối diện với chính bản thân mình, tự hỏi xem thực sự mình muốn gì, rồi từ đó thấy mình cần phải làm gì... Và họ có thể không giúp được bạn, nhưng ít nhất họ dạy bạn cách nhìn xung quanh một chút, có bao người đang nhìn bạn đấy. Quan tâm và mở lòng với người khác ...
Christmas warm.
Andy ngồi trên tuyết, cậu bé thấy lạnh hơn từng giây một. Andy không đi ủng - thứ mà người ta vẫn thường đi trên tuyết vào mùa đông. Cậu bé không thích ủng và dù sao cậu bé vẫn không có ủng cơ mà. Đôi giày vải, mỏng dính, mòn vẹt mà Andy đang mang đã có vài lỗ thủng và chúng không thể làm được việc là giữ ấm cho đôi chân cậu bé.
Andy đã ngồi trên tuyết thật là lâu rồi. Và dù cố đến mấy, cậu bé vẫn không thể nghĩ ra được món quà Giáng sinh cho Mẹ. Cậu bé buồn bã lắc đầu " Vô ích thôi, dù rằng mình có nghĩ ra món quà gì, mình cũng không có tiền mà ."
Từ khi bố Andy mất 3 năm về trước, gia đình cậu bé suy sụp nặng nề. Ban đêm Mẹ cậu làm việc ở bệnh viện, nhưng với đồng lương ít ỏi chỉ đủ mấy mẹ con sống tạm qua ngày. Chúng còn nhỏ lắm, chẳng biết có nghĩ ra món quà gì để tặng Mẹ hay không. Thật không công bằng, bây giờ đã là chiều tối đêm Giáng sinh mà cậu bé vẫn ngồi đây, chẳng thể nghĩ được điều gì cả.
Chú chùi những giọt nước mắt, Andy đứng dậy đi xuống phố - nơi có rất nhiều cửa hàng. Cuộc sống thật khó khăn khi mà cậu bé mới 6 tuổi và không có bố, đặc biệt là khi mà người ta cần một người đàn ông để tâm sự. Andy đi từng cửa hàng này sang cửa hàng khác, nhìn vào từng cửa sổ rực rỡ một. Mọi thứ đều đẹp và ngoài khả năng của cậu. Trời đã bắt đầu tối, Andy buồn bã định quay về nhà thì bỗng nhiên cậu bé nhìn thấy một vật gì đó ánh lên trong tuyết. Andy cúi xuống: 1 đồng xu nhỏ bóng loáng dưới đất. Hẳn chưa ai có cảm giác được giàu có như là Andy cảm thấy vào lúc ấy.
Khi Andy nắm chặt "kho tàng mới nhặt được " của mình, cậu bé cảm thấy như có hơi ấm chạy qua cơ thể, và cậu mạnh dạn bước vào cửa hàng đầu tiên, niềm hân hoan của Andy ngay lập tức bị đóng băng lại khi từng nhân viên bán hàng bảo với cậu rằng chẳng thể làm gi với đồng xu nhỏ xíu đó. Cậu bé đi ra, nhìn thấy một của hàng hoa, Andy liều đứng lại xếp hàng
Khi người chủ cửa hàng hỏi Andy cần gì, cậu bé đưa một đồng u và e dè hỏi liệu mình có thể mua được 1 bông hoa tặng Mẹ trong đêm Giáng sinh với đồng xu nhỏ xíu này không, người chủ cửa hàng nhìn Andy, đặt tay lên vai cậu bé và nói :" Đợi một chút, con trai, để ta xem có thể làm gì cho con."
Khi đứng chờ, Andy ngắm những bông hoa tuyệt đẹp và cậu đã hiểu vì sao Mẹ cậu cũng như bao người phụ nữ khác lại thích hoa đến thế.
Tiếng đóng cửa sớm khi người khách cuối cùng rời khỏi cửa hàng đã đưa cậu quay về với hiện thực. Còn lại một mình trong cửa hàng, Andy bắt đầu cảm thấy cô đơn và hoảng sợ. Bỗng người chủ cửa hàng lại đi ra.
Trước mắt cậu bé là 12 bông hổng đỏ thắm, cuống dài, lá xanh cùng với những bông hoa gì đó trắng, nhỏ li ti, được bọc thành một bó có dây nơ màu bạc. Tim Andy ngừng một nhịp khi ông chủ cửa hàng đặt bó hoa vào một chiếc hộp trắng và bảo: "Tất cả là một đồng xu, con trai."
Andy chậm chạp đặt đồng xu vào tay ông chủ cửa hàng. Không thể là thật được! Không ai bán cho cậu cái gì với một đồng xu đâu ! Nhận thấy sự băn khoăn trên mặt cậu bé, ông chủ cửa hàng giải thích: " May mắn là ta có mấy bông hoa bán với giá một đồng xu một bó. Con trai có thích không ? "
Lần này thì Andy không ngần ngại nữa. Ra khỏi cửa hàng, Andy nghe thấy tiếng ông chủ nói với theo :" Giáng sinh vui vẻ, con trai ."
Khi ông chủ cửa hàng quay vào trong nhà, vợ ông hỏi :"ông vừa nói chuyện và đem hoa cho ai thế ?" Nhìn qua cửa sổ và chớp chớp mắt để ngăn không cho nước mắt trào ra, ông chủ cửa hàng khẽ nói :" Một điều thật lạ lùng đã xảy ra. Sáng nay, khi tôi chuẩn bị mở cửa hàng, tôi có cảm giác như ai đang mách bảo mình để sang bên cạnh 12 bông hoa hồng thật đẹp vì đó sẽ là món quà đặc biệt. Tôi đã nghĩ là mình đã tưởng tượng ra, thế nhưng tôi vẫn cứ để 12 bông hồng ra một chỗ. Và ngay lúc nãy, một cậu bé vào cửa hàng và muốn mua hoa để chúc Giáng sinh cho Mẹ chỉ với 1 đồng xu. Nhìn vào cậu bé, tôi thấy tôi của nhiều năm về trước. Tôi đã là một đứa trẻ nghèo khổ không biết mua gì cho Mẹ vào đêm Giáng sinh.
Một người qua đường đã cho tôi 10 dolla không vì lý do gì. Khi tôi nhìn thấy cậu bé tối hôm nay, tôi biết người đã mách bảo tôi là ai....
Tối Giáng sinh ấy, cả gia đình người chủ cửa hàng hoa và cả gia đình Andy nữa, không ai cảm thấy lạnh chút nào....
MỘT LỜI ĐỘNG VIÊN
Lại thêm một ngày tối tăm. Tôi từ trường về nhà, thay quần áo và chuẩn bị đi làm. Tôi vừa làm thu ngân, vừa làm người sắp chỗ, vừa chạy bàn cho một cửa hàng nhỏ trong thị trấn.
Tôi đi làm với cảm giác thất vọng và trống rỗng. Và mọi chuyện còn tồi tệ hơn khi tôi chạy bàn vào tối hôm ấy. Ngày nào cũng làm những việc giống nhau, lặp đi lặp lại. Tiếp xúc với những khách hàng luôn luôn phàn nàn và kêu ca về đồ ăn, về chỗ ngồi, về miếng bánh của họ quá to hay quá nhỏ. Những điều vụn vặt như vậy có thể làm cho tất cả chúng tôi khó chịu, nhưng chúng tôi đều phải học cách chịu đựng. Có thể có những lúc bực mình, nhưng vẫn phải quen với nó. Tôi biết là tôi phải quen.
Ba người phụ nữ đứng tuổi vào cửa hàng và ngồi ở chiếc bàn ngay cạnh cửa sổ. Chỗ đó ngay lối đi tôi chạy đi chạy lại và mang bát đĩa bẩn vào bồn. Tôi phải chạy bàn từ lúc năm giờ chiều, chúng tôi rất đông khách vào lúc đó. Tôi cố để kịp dọn những chiếc bàn bẩn thật nhanh, người ra vào cửa hàng và nhân viên phục vụ đi lại khắp cửa hàng. Tuy nhiên, những người phụ nữ này lại để ý tôi đang chạy đi chạy lại và làm việc chăm chỉ để đảm bảo bàn được lau dọn sạch sẽ, sẵn sàng cho những khách tiếp theo. Khi họ ăn xong, tôi ra dọn đĩa của họ mang vào bếp. Họ hỏi chuyện tôi một chút về trường học, về công việc tôi đang làm, về những kế hoạch tôi đã đặt ra cho tương lai.
Khi chuẩn bị rời cửa hàng, lúc bước qua tôi, một trong số họ đã nói với tôi bằng một giọng nói dịu dàng và chắc chắn: “Cháu sẽ ổn thôi”. Và đó là tất cả những điều bà muốn nói. Họ rời cửa hàng và để lại cho tôi niềm kính trọng vô bờ. Tôi đã rơi nước mắt, bởi chính họ đã cho tôi niềm tin vào bản thân. Họ đã xốc lại tinh thần cho tôi khi tôi thấy thất vọng; họ cho tôi niềm tin để tôi tiếp tục làm việc thật tốt và cố gắng hết mình.
Mọi người vẫn bảo rằng tôi không thể kiếm được một công việc ở Đài Truyền hình nếu tôi chưa có bằng đại học. Hiện nay, tôi đang làm giám đốc điều hành một kênh truyền hình dành cho sinh viên. Tôi vừa mới hoàn thành khóa thực tập ở một kênh truyền hình địa phương hồi hè vừa rồi. Điều tuyệt vời nhất là tôi mới chỉ có mười bảy tuổi, và tôi vẫn đang là học sinh trung học.
Khuyết danh
CUỘC SỐNG GIẢN ĐƠN
Bố mẹ tôi luôn trân trọng nhau, yêu thương sáu đứa con của họ và đề cao lòng chung thủy. Họ cố gắng sống thật ngăn nắp để có nhiều thời gian làm những việc mà họ cho là quan trọng nhất.
Họ không bận tâm đến việc phải mua một căn nhà lớn hơn, vì điều đó có nghĩa là phải làm một công việc vất vả hơn để trả tiền cho ngân hàng, phải làm thêm giờ hay làm thêm việc gì khác. Vậy thì ai sẽ chạy bộ cùng tôi? Ai sẽ đọc truyện cho tôi nghe?
Họ cũng không bận tâm đến việc phải mua một chiếc xe đắt tiền, vì điều đó có nghĩa là phải làm việc và lo lắng về những hóa đơn lắp đặt. Thay vì điều đó, bố đưa tôi đi mua sắm vào mỗi chiều thứ Bảy để có thể vừa tập thể dục, lại vừa khiến tôi cảm thấy mình thật đặc biệt.
Một trong những niềm vui của tôi là mỗi đêm được thấy bố và mẹ trên giường ngủ, sau lời cầu nguyện mỗi buổi tối của cả nhà. Khi tắt đèn, tôi thấy bóng cha đang ngồi trên chiếc ghế đã cũ, và mẹ thì đang đứng bên cạnh bố, nhẹ nhàng bóp vai cho người. Tôi đã nghe thấy cha mẹ nói về những chuyện đã xảy ra trong ngày. Dù chỉ là một đứa trẻ, tôi cũng cảm thấy niềm vui lặng lẽ của hai người khi họ ở bên nhau.
Hôm nay, tôi tự hỏi: Cha mẹ tôi có thể làm được những việc ấy và nuôi dưỡng tình cảm vợ chồng hay không nếu như họ bận rộn nào là chuyện ăn mặc cho chính mình và cho con cái? Hay nếu như họ phải lo lắng về những hóa đơn hàng tháng về dịch vụ công nghệ thông tin. Tôi nghĩ là không. Và tôi cũng đã thấy một lựa chọn của mình: tôi không thích một cuộc sống đầy lo âu như vậy.
Khuyết danh
CHIẾC HŨ
Từ hồi mà tôi có thể nhớ được, có một chiếc hũ lớn được đặt trên sàn ngay cạnh chiếc bạn trang điểm trong phòng ngủ của bố mẹ tôi. Khi chuẩn bị đi ngủ, bố dốc sạch tiền trong túi và ném những đồng xu vào trong chiếc hũ đó.
Một đứa trẻ như tôi luôn luôn thấy thích thú với những âm thanh do những đồng xu phát ra khi chúng rơi vào chiếc hũ. Khi chiếc hũ còn trống rỗng, những đồng xu rơi vào trong đó với những tiếng leng keng vui tươi. Sau đó, tiếng động của nó giảm dần và chuyển thành tiếng bịch bịch mờ đục. Tôi thường ngồi xổm trên sàn ở ngay trước chiếc hũ và ngưỡng mộ những đồng xu bằng bạc hay bằng đồng lấp lánh giống như một kho báu của cướp biển khi ánh mặt trời chiếu qua cửa sổ phòng ngủ.
Khi chiếc hũ đầy, bố tôi ngồi bên bàn trong bếp và bọc những đồng xu lại trước khi mang chúng đến ngân hàng. Đem những đồng xu này đến ngân hàng luôn luôn là một sự kiện lớn. Được xếp đống gọn gàng trong một chiếc hộp các-tông nhỏ, những đồng xu được đặt giữa tôi và bố trên chỗ ngồi trong chiếc xe tải đã cũ. Mỗi lần, và lần nào cũng vậy, khi lái xe đến ngân hàng, bố thường nhìn tôi với ánh mắt tràn đầy hy vọng. “Những đồng xu này sẽ giúp con rời khỏi nhà máy dệt này, con trai ạ. Con sẽ phải làm được điều gì đó tốt hơn bố. Thị trấn nhỏ cũ kỹ này sẽ không thể giữ con lại được". Và lần nào cũng thế, khi ông đẩy chiếc hộp đầy những đồng xu qua quầy tính tiền đến người thu ngân, ông lại cười tự hào và nói: “Chỗ này là tiền quỹ cho con tôi học đại học. Nó sẽ không phải làm việc suốt đời tại nhà máy như tôi”.
Ông cũng luôn luôn chúc mừng mỗi lần gửi tiền này bằng cách dừng lại và mua kem ốc quế. Tôi luôn ăn kem sô-cô-la, còn bố thì luôn ăn kem vani. Khi người bán hàng ở quán kem đưa cho bố tiền lẻ, ông đưa cho tôi vài đồng kẹp trong bàn tay ông. “Khi nào về nhà, chúng ta lại tiếp tục đổ đầy tiền xu vào trong hũ”.
Bao giờ ông cũng để cho tôi vứt những đồng xu đầu tiên vào trong chiếc hũ rỗng. Khi chúng rơi lách cách với tiếng leng keng vui tươi và ngắn gọn, chúng tôi cùng nhìn nhau và cười tươi tắn. “Con sẽ đến trường bằng những đồng xu, bằng những đồng tiền kẽm, bằng những đồng tiền 25 xu này”, ông nói. “Nhưng con sẽ phải đến đó. Bố muốn thấy điều đó”.
Nhiều năm trôi qua, và tôi tốt nghiệp đại học và làm việc ở một thị trấn khác. Một lần, khi về thăm bố mẹ, tôi dùng điện thoại trong phòng ngủ của họ, và nhận thấy chiếc hũ đó không còn nữa. Nó đã hoàn thành sứ mệnh và đã được mang đi. Tôi cảm thấy nghẹn ngào khi nhìn vào chỗ bên cạnh chiếc bàn trang điểm, nơi luôn luôn có chiếc hũ ở đó. Bố tôi rất ít nói, và ông không bao giờ giảng giải cho tôi về những giá trị của lòng quyết tâm, sự kiên nhẫn hay niềm tin. Chính chiếc hũ đã dạy tôi tất cả những bài học đó nhiều hơn những lời nói hoa mỹ nhất có thể dạy được.
Khi tôi kết hôn, tôi nói với vợ tôi là Susan về phần cuộc sống đầy ý nghĩa, một chiếc hũ tầm thường đã góp phần quan trọng như thế nào trong đời tôi từ khi tôi còn là một đứa trẻ. Trong tâm hồn mình, nó hơn tất cả mọi thứ khác, nó được định nghĩa là tình yêu bao la mà bố dành cho tôi. Dù mọi việc khó khăn đến đâu khi về nhà, bố cũng tiếp tục bỏ những đồng xu vào trong hũ. Thậm chí trong mùa hè, khi bố nghỉ việc ở nhà máy, mẹ phải nấu đậu khô đến vài bữa một tuần, thì vẫn không một đồng xu nào được lấy ra khỏi hũ. Ngược lại, khi bố nhìn tôi qua bàn ăn, bố rưới nước xốt cà chua vào đĩa của tôi để cho những hạt đậu ấy mềm hơn, ông lại càng quyết tâm muốn cho tôi thoát khỏi nơi này. “Khi con học xong đại học, con trai ạ”, ông nói với tôi, đôi mắt ông sáng long lanh, “Con sẽ không bao giờ phải ăn đậu một lần nào nữa, trừ phi con thích”.
Giáng sinh đầu tiên sau khi con gái tôi, Jessica ra đời, chúng tôi về nhà nghỉ lễ với bố mẹ. Sau bữa tối, bố mẹ tôi ngồi cạnh nhau ở trên ghế trường kỷ, thay nhau ẵm đứa cháu nội đầu tiên. Jessica bắt đầu khóc thút thít, và Susan phải bế nó từ tay Bố, “Chắc là nó cần thay đồ rồi”, cô nói, và bế đứa bé vào phòng bố mẹ tôi để thay tã cho nó.
Khi Susan trở vào phòng khách, trong đôi mắt cô có vẻ gì đó rất lạ. Cô đưa Jessica cho bố bế trước khi nắm tay tôi và lặng lẽ đưa tôi vào trong phòng. “Anh nhìn kìa”, cô nói nhỏ, trong khi mắt cô hướng tôi về chỗ bên cạnh bàn trang điểm. Tôi vô cùng ngạc nhiên, chiếc hũ lại đứng đó, như là chưa bao giờ nó được rời đi, ở dưới đáy hũ đã có những đồng xu.
Tôi bước đến chỗ chiếc hũ, cho tay vào túi và lấy ra một nắm đồng xu. Với tất cả những cảm xúc đang khiến tôi nghẹn ngào, tôi bỏ những đồng xu vào trong hũ. Tôi ngước nhìn lên và thấy bố, đang bế Jessica, đã im lặng bước vào trong phòng tự lúc nào. Mắt chúng tôi lảng đi, và tôi biết, ông cũng đang có những cảm xúc giống như của tôi. Không ai trong chúng tôi nói nên lời…
ĐỒ TRANG SỨC CỦA CORNELIA
Đó là một buổi sáng rực rỡ tại thành phố Rome cổ đại từ nhiều thế kỷ trước. Tại một ngôi nhà hóng mát được che phủ bằng giàn nho trong một khu vườn xinh đẹp, có hai cậu bé đang đứng. Chúng đang nhìn mẹ và bạn của bà; họ đang đi dạo giữa cây và hoa.
“Đã bao giờ anh nghĩ rằng cái cô xinh đẹp kia là bạn của mẹ mình không?” Cậu em hỏi, trong khi đang nắm tay cậu anh cao lớn. “Trông cô ấy cứ như nữ hoàng ấy”.
Cậu anh trả lời em: “Nhưng cô ấy không đẹp bằng mẹ. Đúng là cô ấy mặc một chiếc váy rất đẹp, nhưng khuôn mặt cô ấy không quý phái và phúc hậu. Chính mẹ mình trông mới giống một nữ hoàng.
Cậu em nói: “Đúng vậy, không có một người phụ nữ nào ở Rome trông giống một nữ hoàng bằng mẹ yêu quý của chúng ta”.
Ngay lúc đó, Cornelia, mẹ của lũ trẻ, đi đến đó để nói chuyện với chúng. Bà ăn mặc rất đơn giản với một chiếc áo choàng màu trắng trơn. Tay chân bà để trần, cũng giống như ngày thường – tay bà không đeo nhẫn, cổ bà chẳng có dây chuyền. Vương miện duy nhất của bà, một bím tóc tết mái tóc nâu mềm mại cuộn lại trên đầu – và một nụ cười dịu dàng tỏa sáng trên khuôn mặt quý phái khi bà nhìn vào những đôi mắt tự hào của hai cậu con trai.
“Các con trai” - Bà gọi. “Mẹ cần phải nói với các con điều này”.
Chúng cúi đầu trước mặt mẹ, như những chàng trai ở Rome được dạy làm điều đó, và nói: “Điều gì vậy, thưa mẹ?”
“Hôm nay các con sẽ ăn tối với bọn mẹ, ngay trong khu vườn này – và sau đó bạn của chúng ta sẽ cho chúng ta thấy tráp đựng đồ trang sức tuyệt đẹp mà các con đã được nghe đến rất nhiều.”
Hai anh em bẽn lẽn nhìn cô bạn của mẹ. Chẳng lẽ cô ấy vẫn còn những chiếc nhẫn khác nữa ngoài những chiếc mà cô ấy đang đeo trên tay? Chẳng lẽ vẫn còn những hạt ngọc khác ngoài những hạt đang lấp lánh trên chiếc dây chuyền đeo trên cổ cô ấy?
Khi bữa ăn đơn giản ngoài trời kết thúc, một người hầu đem chiếc tráp từ trong nhà ra. Người phụ nữ mở nó ra. A, những đồ trang sức đó đã làm lóa mắt hai cậu bé đang ngạc nhiên! Đó là những chuỗi ngọc trai trắng như sữa, và bóng mềm như lụa – những hạt ngọc ruby sáng chói, đỏ rực như những viên than đang nóng đỏ - những viên saphia xanh như bầu trời trong ngày hè ấy – và những viên kim cương sáng lấp lánh như ánh nắng mặt trời.
Hai anh em nhìn rất lâu vào những viên đá đó, cậu ấy thì thầm: “Giá như mẹ mình có những thứ tuyệt đẹp như thế này nhỉ!”
Cuối cùng thì chiếc tráp cũng được đóng lại và được mang đi cẩn thận.
“Vậy là đúng hả Cornelia? Là cậu không có đồ trang sức?” - Cô bạn bà hỏi. “Có đúng không, như tôi nghe người ta nói, rằng cậu rất nghèo?”
“Không, tớ không nghèo” - Cornelia trả lời, và trong khi nói bà kéo hai cậu con trai đến bên cạnh mình. “Vì đây là những đồ trang sức của tớ. Chúng đáng giá hơn những viên ngọc của cậu rất nhiều.”
Hai cậu bé không bao giờ quên sự tự hào, tình yêu và sự quan tâm của mẹ - và sau đó nhiều năm, khi họ tở thành những người vĩ đại thành Rome, họ thường nghĩ về chuyện xảy ra trong khu vườn ấy. Và cả thế giới vẫn muốn nghe câu chuyện về những đồ trang sức của Cornelia.
ÁNH NẮNG TRONG MỘT NGÀY MƯA
Đã bao giờ bạn phải trải qua một ngày mà mọi thứ đều tồi tệ, và hầu như chẳng có điều gì xảy ra đúng như bạn muốn? Không lâu trước đây, tôi đã có một ngày như thế. Tôi đã thất vọng, kiệt sức và buồn bực vô cùng. Mọi thứ mà tôi nghĩ đến là tôi, tôi, và tôi. Trên hết, không ai khác hiểu được những cảm giác mà tôi đã từng trải qua.
Tôi đã nói cho mẹ biết về trạng thái chán nản của tôi, mong là sẽ được mẹ chia sẻ. Thay vì như vậy, mẹ tôi đã nói “Mẹ nghe nói là Jamie cũng phải trải qua một ngày khó khăn như con vậy. Sao con không làm cho bạn áý một ít bánh và chiều nay chúng ta sẽ mang đến cho bạn ấy?”
Tôi thực sự không muốn làm như thế, nhưng tôi cũng quyết định sẽ tạm thời quên đi mọi vấn đề khác đi. Tôi làm bánh quy và xếp chúng ra đĩa. Rồi tôi làm một tấm thiệp có hình một bông hoa hướng dương và viết một bức thư ngắn đầy sự cảm thông.
Chiều hôm ấy chúng tôi ghé qua nhà Jamie. Tôi đi đến cửa và nhấn chuông. Jamie nhanh chóng ra mở cửa và nhìn tôi rất ngạc nhiên vì tôi đã ghé thăm bất ngờ. Trước khi bạn ấy nói bất cứ điều gì, tôi đã vội nói trước: “Tớ nghe nói là cậu đã phải trải qua một ngày rất tồi tệ và tớ quyết định mang cho cậu một thứ. Tớ mong là ngày hôm nay của cậu sẽ trở nên tốt hớn.” Cảm xúc của Jamie lúc đó được hiện lên nét mặt của cậu ấy nhưng tôi không bao giờ có thể tả được bằng lời. Có vẻ như bầu trời tối tăm đã bừng sáng với những tia mặt trời sáng rực; có vẻ như nhờ một hành động nhỏ như vậy, một ngày của cậu ấy đã bừng sáng trở lại.
Tôi trở lại xe và vì một lý do nào đó, tôi cũng cảm thấy tốt hơn rất nhiều. Ngày hôm đó tôi đã hiểu ra một điều mà James Barrie đã từng nói: “Những người đem ánh sáng đến đến cho người khác cũng sẽ nhận được ánh sáng mà mình đã đem lại”.
MỘT NGỌN LỬA NHỎ
Một người bạn đã mời tôi đến ăn bữa tối tân gia. Ngay trước khi tôi đến, cậu ấy đã thử cái lò sưởi ga, và đã khiến cho vật cách ly trên gác mái bốc cháy.
Khi tôi tới đó, mái nhà đang cháy bừng bừng, những ống cứu hỏa đang làm việc, và mọi người đang đứng xung quanh xem đám cháy. Bạn tôi trong thấy tôi và lên tiếng giải thích rằng bữa tối đã tiêu tan theo đám cháy. Một phụ nữ với con gái nhỏ đứng đó, nghe cậu ấy và nói: “Tôi và con gái cũng đang chuẩn bị đi ăn tối. Chúng tôi có hai vé mời miễn phí tới nhà hàng này, nhưng tôi muốn tặng hai bạn. Chúa phù hộ hai bạn”.
Tôi và bạn tôi rất cảm động mà không thể nói nên lời cho đến khi người ấy đi. Sự hào phóng của và những hàng động quan tâm thực sự tới những người lạ đã khiến cho hai chúng tôi thấy hạnh phúc hơn rất nhiều.
LUÔN Ở ĐÓ
Thành phố New York, một ngày hè nóng nực. Tôi vội vã chạy đến chỗ làm ở Upper West Side vì sợ muộn.
Khi đi qua một công viên, tôi nghe thấy tiếng một phụ nữ đang thổn thức. Tôi nghe thấy giống như tiếng than vãn hơn, như thể người phụ nữ ấy đã khóc vì nỗi đau nào đó. Âm thanh đó gây chú ý đến nỗi làm cho tôi ngay lập tức dừng lại trên đường để tìm hiểu xem tiếng khóc ấy phát ra từ đâu.
Sau đó, tôi đã để ý thấy một người phụ nữ vô gia cư khoảng năm mươi tuổi. Ngay cạnh bà là một thương nhân trẻ đang ngồi trên ghế. Người phụ nữ vô gia cư vươn tay ra và ôm lấy thương nhân trẻ đó. Lúc đầu, người đàn ông này trông có vẻ sợ hãi. Nhưng sau đó, khuôn mặt anh dịu lại và cũng vươn tay ra ôm lấy người phụ nữ thật chặt. Tôi biết tôi đã được chứng kiến một câu chuyện rất hay. Đây chính là điều mà cuộc sống luôn vươn tới.
VỊ THẨM PHÁN
Hồi cuối những năm tám mươi thế kỷ trước, tôi vừa mới hoàn thành chương trình đào tạo một năm dành cho trường Kỹ thuật địa phương.
Tôi nhanh chóng đi phỏng vấn tìm việc làm. Và ngay trong lần phỏng vấn đầu tiên tôi đã được nhận. Tôi phải mặc áo vét và đeo cà-vạt suốt ngày. Có lẽ khi tôi phát phì, tôi sẽ không có đồ gì để mặc.
Cha một người bạn tốt của tôi đã nghỉ hưu, dạo trước ông làm tại Tòa án Nhân dân Quận của Liên bang. Bạn tôi dẫn tôi đến gặp ông. Ông đưa tôi mấy đồng một trăm đô trong bộ đồ lấy từ trong phòng riêng của ông. Tôi từ chối, rằng tôi không bao giờ có thể trả lại ông. Ông nói: “Cháu sẽ trả được, chú tin rằng cháu có thể làm được điều gì đó cho mình. Và đến khi cháu đã làm tốt cho mình rồi, và cháu thấy người khác cần được giúp đỡ, thì hãy giúp đỡ họ. Cháu sẽ quý trong những ký ức về chúng trong suốt phần đời còn lại”.
TÌNH YÊU VÀ LÒNG KHOAN DUNG
Đứa con gái ba tuổi của tôi đã cho tôi thấy niềm hạnh phúc khi được chia sẻ với người khác.
Một lần, mẹ con tôi đi mua sắm vào Treat Day (Ngày thứ Sáu). Nó chọn ra “bữa tiệc của mình” và để ý thấy một cậu bé trai đang đòi mẹ nó mua cho một thanh sô-cô-la. Mẹ của cậu bé nói họ chỉ có đủ tiền mua bánh mì và sữa. Con gái tôi quay sang hỏi tôi là có thể mua cho cậu bé kia một thanh sô-cô-la không. Tất nhiên rồi, chắc chắn là tôi không thể từ chối yêu cầu của cô con gái nhỏ. Gương mặt nó bừng sáng với một nụ cười khi nó đưa thanh sô-cô-la cho cậu bé, người mà nó không hề quen biết, diều này đã khiến tôi gần như bật khóc ngay ở tại cửa hàng.
Đôi khi tôi nghĩ rằng có thể con cái chúng ta mới nên là những người vận hành thế giới này.
Ông đã nói đúng. Tôi đã trải qua những lúc như vậy, đã làm như ông nói nhiều hơn một lần và quý trong từng ký ức.
THỨC ĂN CHO NHỮNG NGƯỜI THẤT NGHIỆP
Cách đây gần một năm, tôi đã thất nghiệp trong vòng ba tháng, không có thu nhập, không có thức ăn! Một người mẹ với đứa con gái mười một tuổi.
Tôi không có tiền để trả cho bà chủ nhà nhưng cuối cùng bà lại quyết định xem xét lại cho chúng tôi. Bà nói: “Tôi không thể để cô đi mà không tìm được một chỗ nào đó để ở!”
Tôi không biết nhiều về người phụ nữa này, và bà cũng chẳng có lý do gì để giúp đỡ mẹ con tôi, nhưng bà tin rằng ai cũng chỉ là một đứa con của Chúa và không những cho chúng tôi ở lại, bà còn nuôi chúng tôi, không chỉ bằng thức ăn mà bằng tình yêu, bằng quần áo, điện nước, thời gian và những hỗ trợ của riêng bà - tất cả những thứ cần thiết cho cuộc sống của tôi.
Tôi phải chân thành mà nói rằng chính nhờ có sự kiên nhẫn và tính quả quyết của bà mà tôi có thể tiếp tục cố gắng. Giờ đây tôi đã có việc làm sau… 104 lần phỏng vấn. Tôi đã làm việc được chín tháng và bà vẫn tiếp tục liên lạc với tôi để chắc chắn là tôi vẫn ổn (vì tôi làm việc theo một hợp đồng).
MỘT GIA ĐÌNH TÁCH BIỆT
Chúng tôi đứng bên cạnh chiếc xe cũ kỹ của tôi, hết xăng, hết tiền. Còn 3 dặm nữa là đến nhà và năm dặm nữa mới đến trạm xăng gần nhất. Đứa con gái mười tuổi của tôi cố an ủi tôi đừng lo lắng nữa. Chúng tôi có thể đem theo hàng tạp phẩm và đi bộ về nhà, nhưng sau khi đi mua hàng ở bách hóa, chân tôi đã đau lắm rồi. (Khi tôi mới sinh ra là vào hồi những năm năm mươi, có dịch bệnh bại liệt và tôi là một trong những đứa trẻ bị ảnh hưởng bởi căn bệnh đó.)
Chúng tôi đã từng sống ở sa mạc trong vòng hai năm mà không có điện hay nước lọc, và cũng không có cả tiền. Tôi cố gắng nghĩ xem có thể quay trở lại cửa hàng với chỗ xăng còn lại trong xe không. Tôi đã sai và đã vô phương suy nghĩ.
Sau mười phút có một chiếc xe khác dừng lại. Trong xe là một gia đình người thổ dân Mỹ sống cách nhà tôi một vài dặm đường. Những người này luôn luôn tách biệt và không tiếp xúc với những người khác trong vùng và thậm chí có vẫy tay họ cũng không thèm để ý.
Người vợ đi ra khỏi xe và hỏi chúng tôi có cần giúp đỡ không. Tôi giải thích là xe tôi hết xăng và tôi cũng chẳng có tiền để mua. Cô vợ ấy quay về xe của mình và chiếc xe quay trở lại con đường cũ. Rồi khoảng hai mươi phút sau, họ mang về 5 gallon xăng. Tôi nói với họ là tôi không có tiền để trả họ tiền mua xăng. Cô vợ ấy nói: “Tôi đã nghe chị nói vậy lúc nãy rồi.” Và họ giúp tôi khởi động chiếc xe và đưa tôi về tận nhà chỉ trong vài phút.
Tôi cố thật nhanh để đến chỗ họ và đưa trả họ tiền, nhưng họ đã đi xa. Tôi không thể trả họ về những điều tốt đẹp họ dành cho tôi, tôi cũng không hề thay đổi suy nghĩ của tôi, rằng họ là người khác biệt và ít để tâm đến người khác. Nhưng bất cứ khi nào có thể, tôi luôn luôn cố gắng giúp đỡ người khác trên con đường tôi đi và trong suốt cuộc đời tôi, bao giờ tôi cũng nhớ đến họ.
MỘT TÁCH CÀ PHÊ
Cuộc sống của tôi bắt đầu cũng giống như của những anh chị em khác trong gia đình, với một người mẹ luôn luôn cố gắng làm tất cả mọi việc trước khi mẹ rời bố. Đó là gia đình tôi, chúng tôi đã lớn lên mà không biết bố là gì, và không biết đến sự dạy dỗ khuyên bảo của người cha.
Do vậy, tôi đã rơi vào cạm bẫy của rượu và ma túy, và tôi sống như trẻ lang thang trong vòng bảy năm và sau đó tôi được đưa vào trường phục hồi chức năng xã hội. Ở đó, tôi đã gặp Bill, cố vấn của tôi, anh ấy đã dạy tôi rất nhiều điều. Điều quan trọng nhất là nghệ thuật cho và nhận.
Đó là một buổi tối trước một sự kiện quan trọng và tôi cảm thấy vô cùng hồi hộp. Bill đã nhận ra điều đó và rủ tôi đi dạo với anh. Khi chúng tôi vừa đi dạo vừa nói chuyện, Bill mời tôi đi uống cà phê. Tôi nói tôi đã nhẵn túi nhưng nếu anh trả tiền cà phê cho tôi, tôi sẽ trả lại anh. Anh dừng lại và nhìn tôi với một vẻ mặt nghiêm nghị nhưng tràn đầy yêu thương. Anh nói:
“Không, cậu sẽ không phải trả”.
Sau đó, anh nói tiếp với tôi rằng tôi không nợ tôi thứ gì hết, và anh đã làm như thế bởi vì anh có thể làm. Rồi anh nói với tôi về những điều tôi sắp phải trải qua. “Một ngày nào đó, em ở bên cạnh một người và họ cần một cốc cà phê, em có thể mua cốc cà phê ấy cho họ. Đấy là cách mà em sẽ trả tôi”
Giờ đây tôi đã là một công nhân trẻ, cuộc sống của tôi khác rất nhiều so với cách đây mười năm. Nghề nghiệp của tôi rất bình thường, tôi mua cà phê cho lũ trẻ. Bill đã dạy tôi phải làm điều đó như thế nào.
BÀI HỌC CỦA THẦY
Chúng tôi đứng ngoài hành lang lớp học nói chuyện với thầy giáo dạy môn tiếng Anh, không phải về việc học hành mà là về những vấn đề chung chung. Thầy nói chuyện với chúng tôi như thể chúng tôi đã là người lớn cả rồi. Cho dù, chúng tôi vẫn còn đang học năm cuối ở trường trung học.
Trong cuộc tranh luận, bạn tôi đã đưa ra một lời bình luận. Thế là thầy dừng cuộc nói chuyện một lúc và nói: “Thực ra, em nói rất giống một người bạn của tôi. Cậu ấy không bao giờ thích khi nghe thấy mọi người bị nói xấu, không bao giờ buộc tội ai nếu cảm thấy họ không thể tự bảo vệ mình bởi sự vắng mặt của họ.”
Tôi đã nuốt từng lời nói ấy của thầy, những lời đã thay đổi bản thân tôi. Từ ngày đó, lời của thầy in đậm trong tôi như một mệnh lệnh, khiến tôi không bao giờ nói xấu về bất kỳ ai. Khi có một lời đồn đại về ai đó, tôi không nghe và không lan truyền nó đi. Không phải vì tôi kiêu căng mà vì tôi tin rằng, bất cứ ai cũng cần được đối xử với lòng chân thành và lòng tin, cho đến khi có người chứng minh được điều ngược lại.
BÀI KIỂM TRA TÌNH YÊU
John Blanchard đứng dậy cạnh chiếc ghế dài, thẳng người với bộ quân phục và tìm kiếm trong đám đông đang đi lại trên Ga Trung tâm.
Anh đang tìm một cô gái mà anh mới chỉ biết tâm hồn chứ chưa biết mặt, cô gái cầm hoa.
Anh quan tâm đến cô từ mười ba tháng trước ở thư viện Florida. Anh cầm một cuốn sách khỏi giá và rất thích thú, không phải với từ ngữ trong sách mà với những ghi chú được viết bằng bút chì bên lề cuốn sách. Một nét chữ mềm mại biểu hiện một người có suy nghĩ chín chắn và một tâm hồn biết cảm thông.
Ngay trang đầu của cuốn sách, anh đã nhận ra tên của người mượn sách trước đó, cô Hollis Maynell. Sau bao nhiêu nỗ lựa và thời gian, anh cũng đã tìm thấy được địa chỉ của cô. Cô sống ở New York. Anh đã viết cho cô một bức thư tự giới thiệu mình và mong có hồi âm của cô. Ngày hôm sau, anh lên tàu ra nước ngoài phục vụ trong quân ngũ của Đệ nhị Thế chiến.
Trong suốt một năm và một tháng sau, hai người biết nhau nhiều hơn qua những bức thư. Mỗi bức thư là một hạt giống được gieo lên cánh đồng màu mỡ. Và một Chồi non mang tên Lãng mạn bắt đầu nảy nở.
Blanchard xin một tấm ảnh của cô gái, nhưng cô từ chối. Cô nói, nếu như anh thực sự quan tâm, thì bề ngoài của cô có ra sao cũng không phải là điều quan trọng.
Cuối cùng cũng đến ngày anh trở về từ chiến trường Châu Âu, họ đã sắp một cuộc hẹn đầu tiên - lúc 7 giờ tối ở nhà Ga Trung tâm, New York.
Trong thư cô viết: “Anh sẽ nhận ra tôi, tôi là người cài một bông hồng đỏ trên ve áo”.
Vì vậy, đúng 7 giờ tối, anh đến nhà ga và tìm cô gái có trái tim mà anh yêu quý dù chưa một lần gặp mặt.
Sau đây, chính Blanchard sẽ kể cho các bạn nghe câu chuyện của ngày hôm đó:
Một người phụ nữ trẻ đang tiến đến chỗ tôi, cô cao và thanh mảnh. Cô có mái tóc vàng xếp thành từng lọn xoăn ôm lấy đôi tai thanh tú, có đôi mắt xanh như những đóa hoa. Đôi môi và chiếc cằm của cô toát ra một vẻ cương nghị. Và trong bộ đồ màu xanh nhạt, nhìn cô như thể mùa xuân đang đến gần.
Tôi bắt đầu tiến lại gần cô, hoàn toàn không để ý là cô không hề cài bông hồng trên áo. Khi tôi tiến đến, trên môi cô nở một nụ cười rất tinh quái.
“Thưa ngài, hãy đi theo tôi?” - cô nói nhỏ.
Tôi gần như không tự kiểm soát được mình và bước từng bước theo cô, sau đó, tôi trông thấy Hollis Maynell. Bà đang đứng ngay phía sau cô gái. Đó là một phụ nữ ngoài 40 tuổi, mái tóc hoa râm của bà gấp lại phía dưới chiếc mũ cũ kỹ. Bà hơi đẫy đà quá, bà lại đang đi một đôi giày đế thấp. Cô gái trong bộ đồ xanh lá cây bước nhanh qua.
Tôi cảm giác như mình đang muốn phân thân, vừa muốn đi theo cô gái, vừa muốn được gặp người phụ nữ với tâm hồn đẹp, đã thực sự bầu bạn với tôi và luôn ủng hộ tôi.
Và bà đứng đó. Khuôn mặt đầy đặn của bà toát lên vẻ dịu dàng và hiểu biết, đôi mắt màu xám ánh lên những tia sáng ấm áp và chân thành. Tôi không chần chừ. Ngón tay tôi cứ giữ chặt cuốn sách bìa da màu xanh đã cũ sờn, nhờ cuốn sách mà tôi đã biết được bà.
Không phải là tình yêu, nhưng đây là một điều gì đó vô cùng quý báu, một điều gì đó còn hơn cả tình yêu, một tình bạn mà tôi vô cùng trân trọng. Tôi đứng thẳng lại và chào bà; tôi đưa cuốn sách cho người phụ nữ, tôi nói với bà, dù trong khi nói, giọng tôi cũng có nghẹn lại vì sự luyến tiếc và thất vọng:
“Cháu là trung úy Blanchard, cô chắc là Miss Maynell. Cháu rất vui là cô đã gặp cháu, cháu có thể mời cô đi ăn tối được không?”
Khuôn mặt người phụ nữ nở một nụ cười thông cảm. Bà trả lời:
“Tôi không biết đây là chuyện gì, con trai ạ, cô gái trong bộ đồ xanh kia vừa mới đi qua, cô ấy cầu xin ta cài bông hồng này lên áo choàng của ta. Và cô ấy nói nếu như cậu mời tôi đi ăn tối, tôi sẽ đến và nói với cậu răng cô ấy đang đợi cậu ở nhà hàng lớn bên kia đường. Cô ấy nói đây là một bài kiểm tra”.
Khuyết danh
NHỮNG LỜI CÁM ƠN
Chuyện diễn ra vài năm trước, khi tôi còn đi bộ để đưa con đến trường. Thật không may, chúng tôi lại sống gần bến xe buýt, nhưng cũng quá xa để cậu con trai học lớp Một có thể một mình đi bộ về nhà. Thế là theo thường lệ, vào mỗi buổi chiều, tôi cùng với đứa con gái nhỏ và cậu con trai còn đang ẵm ngửa đi bộ qua sáu khu nhà.
Một trong những buổi chiều như thế, trời bất chợt đổ mưa khi chúng tôi mới đi được nửa đường. Cậu con trai bé bỏng được tôi và cái chăn che cho khỏi ướt, còn tôi và con gái thì bị ướt như chuột lột.
Khi một chiếc ô tô dừng lại bên lề đường, trong đó chỉ có một người đàn ông lái xe, tôi thấy hoảng sợ và rảo bước càng nhanh. Người đàn ông nhận ra nỗi sợ hãi của tôi, ông bước ra khỏi xe (và ông cũng bị ướt), đưa cho tôi một chiếc ô, rồi ông trở lại xe và lái xe đi.
Hành động dù nhỏ nhoi nhưng vô cùng tuyệt vời này đã chứng minh cho tôi thấy rằng dù cho cuộc sống có hỗn độn đến đâu thì vẫn còn có những người dừng lại và giúp đỡ người khác. Người đàn ông đó không cần được người khác khen ngợi, hay không cần cố gắng thể hiện lòng tốt trước bất cứ ai hết. Ông chỉ tự mình làm một việc tốt mà không cần một động lực nào ngoài lòng tốt của ông.
Khuyết danh
Thấy bài cuối ko? thấy thì tự làm nghĩa vụ của mình đi nhá:y24::y24::y24::y24::y24::y24::y24::y24::y24:: y24::y24::y24::y24::y24::y24::y24::y24::y24:
Tôi nhớ những lần trót làm mất cái gì lại chạy về nói ngay với mẹ. Mẹ chẳng bao giờ mắng tôi mà chỉ căn dặn lại về sự cẩn thận, ngăn nắp. Hôm sau, tôi lại được mua món đồ mới thay thế, lại vui, lại tung tăng đi chơi và (lại) có thể sẽ đánh mất đồ, lại cẩu thả thêm một hay nhiều lần nữa.
Trong tôi ngày đó hình thành nên cái suy nghĩ về những điều "Mất đi và lấy lại đuợc" vì rõ ràng, tôi chưa bao giờ có cảm giác "mất hoàn toàn" cả, tôi đã có mẹ, người lấy lại tất cả.
Mẹ như bà tiên trong giấc mơ, là người biến phép màu xung quanh những tháng năm lớn lên của tôi. Chợt nhận ra, tuổi thơ của mỗi con người như những hạt màu óng ánh nằm trong chiếc đồng hồ cát, dù có dốc ngược dốc xuôi tới mấy thì chúng vẫn ở yên trong khối thủy tinh, để được bảo vệ và nâng niu - Tuổi thơ hay còn là quãng thời gian của những điều không mất đi...
Mất đi và không lấy lại được
Thành "người lớn", "phép màu", "cổ tích" cũng dần lùi vào góc kỉ niệm. Mới đầu là sự ngỡ ngàng - sững sờ, nhưng rồi tôi cũng phải quen và học cách chấp nhận thực tế: có những cái Mất đi và không lấy lại được, những điều quí giá rời xa, khiến trái tim bạn mệt mỏi...
Đó là lần đầu tiên tôi "cảm nhận" được nỗi đau mất người thân, khi bà ngoại qua đời. Buổi chiều Chủ nhật năm 2002, khi đang ngồi cũng chúng bạn thì tôi nhận được điện thoại của anh: "Bà ngoại đi cấp cứu..., em lên Bệnh viện 354 ngay nhé!". Ngay lập tức tôi phóng xe và vẫn hy vọng sẽ có điều kì diệu xảy ra. Nhưng số phận thật trớ trêu, trên đường đi, anh tôi đã báo tin xấu nhất có thể... Vậy là tôi không được gặp Ngoại lần cuối...!?
Nhưng có lẽ số phận cũng không quay lưng lại với tôi quá phũ phàng. Mới ngày hôm qua thôi, run rủi thế nào tôi qua thăm Ngoại... Lúc về, Ngoại mới nói dạo này thỉnh thoảng thấy nhói tim nhưng khi đó thấy da dẻ Ngoại vẫn hồng hào, giọng nói vẫn khỏa khoắn, ăn uống vẫn đầy đủ nên tôi chỉ chúc Ngoại khỏe mạnh mà thôi... Tôi còn nhớ ánh mắt dịu dàng, dáng đi thanh cao và giọng nói ấm áp của Ngoại trong lần cuối cùng đó... Ai ngờ, Ngoại đã mất vì chính điều Ngoại đang lo ngại khi đó... Ngày viếng Ngoại, hàng nghìn người đã tới như đủ để chứng minh cả cuộc đời của Ngoại đã hết lòng vì con cháu và cộng đồng...
Mỗi khi nghĩ về Ngoại, chút nuối tiếc lại khẽ lay động như một vết thương còn chưa lành hẳn. Thế mới hay, những người thân thật quan trọng với mỗi người. Bởi vậy, dù có bận rộn thế nào, cũng cần dành thời gian để ở bên họ, để chia sẻ và được chia sẻ. Từng giây phút trôi qua của cuộc sống quý giá hơn gấp vạn lần, khi bạn biết được rằng, có nhiều lắm, những điều "Mất đi và không lấy lại được".
Mất đi và không muốn lấy lại
Mọi thứ trong cuộc sống của bạn đều thật đáng trân trọng. Nhưng có nhất thiết phải cố gắng giữ lại tất cả ở bên mình? Câu trả lời là: Không, không thể và không nên.
"Không thể" là bởi bạn chẳng bao giờ lường trước được điều gì sắp xảy đến với mình: niềm vui hay nỗi buồn? Thành công hay thất bại? Tôi từng rất hụt hẫng khi nhận ra, có người mình rất tin tưởng, yêu mến và trân trọng, đã quay lưng đi trong những lúc bạn tôi cần nhất. Lúc ấy, tôi buồn và chới với biết mấy. Rối bời tới mức còn hy vọng, họ sẽ quay lại. Nhưng rồi chẳng có bàn tay nào ở đó, tôi ngã. Ngã đau...
Một thời gian dài trôi qua, tôi vùi đầu vào việc khác để lãng quên. Vết thương lành hẳn, tôi tự đứng dậy, tự bước tiếp, vững vàng và cẩn trọng hơn. Chính sự vô tình của người khác, chính các cú ngã đau đã nói lên rằng, có những điều mất đi mà bạn chẳng bao giờ muốn lấy lại. Chúng làm bạn đau, tổn thương ít hay nhiều nhưng không mảy may để lại chút tì vết nào. Chỉ là sau mỗi lần ngã đau, bạn lại trưởng thành hơn một chút mà thôi...
Có nên chăng, "đánh mất" những thứ không thuộc về mình?
Có một số người bạn của tôi viết nhật ký, blog khá nhiều về "Những điều mất đi". Đó là một việc làm thú vị mà ai cũng có thể làm. Chúng ta viết ra không cần với một cảm xúc đặc biệt hay triết lý cao siêu gì. Đơn giản, nó như một cái timeline đặc biệt của người trẻ tuổi. Vì càng lúc, chúng ta sẽ càng ít hơn những điều mất đi, càng ít những tiếc nuối...
Tình bạn là thế nào...
Một chuyến tàu ngoài khơi gặp bão và bị đắm. Có hai người dạt đến một hoang đảo. Cả hai đã nhiều lần làm thuyền nhưng không lần nào thành công. Cuối cùng, họ đồng ý với nhau là cùng ngồi cầu nguyện. Mỗi người sẽ ở một nửa hòn đảo xem lời cầu nguyện của ai sẽ linh nghiệm.
Đầu tiên, người thứ nhất cầu nguyện có được thức ăn. Sáng hôm sau, người thứ nhất tìm thấy một cây có nhiều quả rất ngon nên anh ta không còn phải lo lắng đi tìm thức ăn nữa. Ở phần bên kia hòn đảo, đất vẫn khô cằn và người thứ hai không tìm được gì cả.
Hết một tuần, người thứ nhất cầu nguyện cho có bầu bạn. Chỉ sau một ngày, ở bên đảo của người thứ nhất có một chiếc tàu khác bị đắm và một người phụ nữ dạt vào. Hai người chuyện trò cho bớt cô đơn, còn ở phần bên kia hòn đảo, người thứ hai vẫn không có gì khác.
Liên tục ngững ngày sau đó, người thứ nhất cầu nguyện được căn nhà, quần áo ấm và nhiều thức ăn hơn. Phép màu lại xảy ra. Những gì anh ta ước thường xuất hiện ngay vào buổi sáng ngày hôm sau. Tuy nhiên, vẫn không có gì khác xảy ra ở phần đảo của người đàn ông thứ hai.
Cuối cùng, người thứ nhất và người phụ nữ - nay đã là vợ anh ta- cầu nguyện có một chiếc tàu. Sáng hôm sau, một chiếc tàu lớn xuất hiện trên bãi biển. Người thứ nhất dẫn vợ mình lên tàu và quyết định bỏ người thứ hai ở lại trên đảo. Anh ta nghĩ rằng người kia không đáng được nhận bất kì tứ gì anh ta có được từ những lời cầu nguyện riêng của anh ta.
Khi chiếc tàu chuẩn bị rời bến, bỗng người thứ nhất nghe thấy có tiếng nói vang lên từ không trung:
-" Tại sao ngươi lại bỏ bạn mình?".
Người thứ nhất thản nhiên cao giọng:
-"Tất cả mọi thứ đều do tôi cầu nguyện mà có. Anh ta chẳng cầu nguyện được gì cả nên anh ta không xứng đáng để đi cùng tôi."
-"Ngươi sai rồi" – giọng nói vang lên trách móc – " Từ đầu đến cuối, anh ta chỉ ước có một điều và ta đã thực hiện cho anh ta điều ước ấy".
Người thứ nhất rất ngạc nhiên:
-"Hãy cho tôi biết anh ta đã ước gì vậy?"
-"Anh ta đã ước rằng những lời cầu nguyện của ngươi được biến thành sự thật!" ....
Do you fear death?
Hồi còn bé, có lần tôi đã khóc khi nghĩ đến một ngày, cái chết sẽ đến và mang tôi đi. Tôi khóc vì sợ. Tôi thừa nhận là tôi sợ chết. Tôi sợ, sau khi chết đi, tôi sẽ chỉ còn một mình dưới đất lạnh, tôi sợ rằng tôi sẽ không được sống lại một cuộc sống khác, tôi sợ mọi người sẽ quên mất tôi khi thời gian qua đi.
Tôi cảm thấy sợ khi lần đầu tiên nhận biết được thân phận nhỏ nhoi của mình trước sự vô biên của thời gian, tôi chẳng là gì cả, chỉ là một hạt bụi trên mặt đất này thôi, và trước tôi đã có biết bao nhiêu hạt bụi rơi rớt trên mặt đất này, để một ngày kia, khi cơn gió số mệnh thổi đến, họ cũng đã biến mất như chưa bao giờ tồn tại. Cái ý nghĩ đó làm tôi sợ, tôi tự hỏi: "Vậy tôi được sinh ra để làm gì? Chẳng lẽ tôi được trao cho một mạng sống chỉ để cố sức giữ gìn nó cho đến khi nó rời bỏ tôi?". Mọi thứ đều trở nên vô nghĩa. Tôi không biết mình đang cố gắng vì điều gì, khi một ngày kia, cái chết sẽ đến và xoá sạch mọi thứ. Vô nghĩa, cõi đời như một giấc mộng phù phiếm. Tôi không biết tại sao tôi phải chết!
Tôi đã khóc và ôm lấy mẹ tôi mà hỏi: "Tại sao khi già đi sẽ phải chết hả mẹ?" Mẹ dỗ dành tôi và nói: "Con người ta, ai mà chẳng phải chết, cái chết là một phần của cuộc sống, nhưng cái chết không quan trọng, cái quan trọng là sự sống, ta phải sống làm sao để khi chết đi ta không cảm thấy áy náy, cảm thấy hối tiếc". Lúc ấy tôi không hiểu lắm những điều mẹ dạy, nhưng giọng nói của mẹ làm tôi cảm thấy yên lòng.
Đến khi đã lớn hơn. Tôi hiểu ra rằng: mọi sinh vật khi được sinh ra đều có mục đích sống. Hãy quan sát những con kiến, chúng chỉ sống được 6 tháng, nhưng chúng có than phiền gì về đời sống ngắn ngủi của chúng đâu, chúng chăm chỉ hoàn thành công việc của mình: xây dựng tổ kiến. Và khi chúng chết đi, cái tổ kiến kia vẫn còn, chắc hẳn khi một con kiến chết đi, nó sẽ không có gì để phải vương vấn, vì nó đã hoàn thành mục đích sống của mình. Tôi hiểu ra rằng, tôi được sinh ra không chỉ đơn thuần để sống, mà còn để hoàn thành mục đích sống của mình, để khi thời gian có xóa sạch mọi thứ thì sẽ vẫn còn một tí gì của tôi rơi rớt lại trên cõi đời này. Phải chọn cho mình một mục đích sống thôi.
Khi nhắc đến cái chết hoặc sự chết chóc thì hầu như ai cũng sợ. Giống như Trịnh Công Sơn đã viết "Tôi nay ở trọ trần gian... trăm năm về chốn xa xăm cuối trời". Đúng vậy, mỗi một con người đều là "khách trọ" trong thế gian này mà thôi. Đã biết, mình được đến đây và có lúc phải đi. Nhưng có những người cả đời an phận, cuối cùng cũng chết, cả một đời người tan biến như mây khói. Có những người sống có lí tưởng, dám đấu tranh đến cùng để bảo vệ những gì mình cho là đúng, dù phải đánh đổi bằng mạng sống, mạng sống của họ không mất đi một cách vô nghĩa, một cái chết đẹp.
Khi con người ta sinh ra đời, mọi người xung quanh cười còn đứa trẻ lại khóc. Và khi con người ta nhắm mắt buông xuôi tất cả, mọi người khóc còn đứa trẻ đó qua bao nhiêu năm đã có thể mỉm cười. Trông khuôn mặt họ mới thanh thản làm sao!. Chúng ta sẽ khóc và sẽ tiễn đưa, nhưng hãy nhớ rằng: "Ai cũng một lần sinh và một lần tử". Họ sẽ sống khi quãng đường đời còn cho sống và họ sẽ đi khi họ không thể đứng vững trên cuộc đời. Họ đang mệt mỏi và họ cần một thế giới tâm linh cho riêng mình. Họ đã chọn cái chết và để lại từ phía sau những nỗi đau cho nhân loại, cho người thân yêu. Nhưng trong tâm họ vẫn luôn cảm nhận và mang theo những gì ta đã dành cho họ. Hãy sống sao cho thật giống với cuộc sống mà thế giới đã ban chọn cho mình, bạn nhé!
Opposite and stand up.
Người ta nói : Khi một người có cái chân đau thì họ chỉ nghĩ về cái chân đau đó.. Điều đó có lẽ đúng. Một người đau, người ta chỉ nghĩ đến nỗi đau của mình, đau khổ vì nó, ôm khư khư nỗi đau đó, và thậm chí không muốn cho ai động vào. Họ tự dằn vặt mình và tỏ vẻ không muốn để người khác giúp đỡ, họ vô tình hay cố ý làm những người xung quanh khó xử hoặc buồn lòng. Nói thật, đấy không phải là mạnh mẽ gì, mà chẳng qua đấy là sự kém cỏi, kém cỏi và hèn vì nghĩ rằng mình không thể vượt qua được và cũng vì thế mà sinh ra tính tự phụ, bất mãn, nằm đó gặm nhấm nỗi đau. Hèn kém đến nỗi ngay cả tự bản thân cũng không muốn vượt qua, hạn chế mình ngay cả trong suy nghĩ ...chỉ muốn sống mãi với quá khứ đau buồn, chán chường với hiện tại và bi quan về tương lai ...
Bạn ah...khi có nỗi đau thì phải cố gắng mà đứng dậy, vượt qua nó, chứ không phải là cứ để nó ngày càng nặng hơn, càng không thể chữa nổi. Ngã rồi thì phải biết đứng dậy, đứng dậy mà đi tiếp chứ ko phải nằm ì ra đó mà kêu, mà khóc... Vẫn biết chẳng có người mạnh mẽ, chỉ có người cố tỏ ra là mình mạnh mẽ, nhưng tỏ ra mình mạnh mẽ không phải là bằng cách bất cần, để mặc mọi chuyện muốn đến đâu thì đến, để suốt ngày chỉ nói: kệ tôi, mọi người đừng quan tâm đến tôi, đấy là chuyện riêng của tôi....
Hãy để nỗi đau đó vơi đi với quá khứ, với một miền xa xăm nào đó trong thâm tâm. Để thỉnh thoảng đôi khi nhớ sẽ lại có cảm giác nhói đau , nhưng đau để nhớ, đau để tránh, đau để ko bao giờ bị đau như vậy - Và lúc đó hãy mỉm cười, không lãng quên vì nó đã là quá khứ. Hãy làm sao sống trọn vẹn với hiện tại và hướng thẳng tương lai...
Đối diện với chính bản thân mình, tự hỏi xem thực sự mình muốn gì, rồi từ đó thấy mình cần phải làm gì... Và họ có thể không giúp được bạn, nhưng ít nhất họ dạy bạn cách nhìn xung quanh một chút, có bao người đang nhìn bạn đấy. Quan tâm và mở lòng với người khác ...
Christmas warm.
Andy ngồi trên tuyết, cậu bé thấy lạnh hơn từng giây một. Andy không đi ủng - thứ mà người ta vẫn thường đi trên tuyết vào mùa đông. Cậu bé không thích ủng và dù sao cậu bé vẫn không có ủng cơ mà. Đôi giày vải, mỏng dính, mòn vẹt mà Andy đang mang đã có vài lỗ thủng và chúng không thể làm được việc là giữ ấm cho đôi chân cậu bé.
Andy đã ngồi trên tuyết thật là lâu rồi. Và dù cố đến mấy, cậu bé vẫn không thể nghĩ ra được món quà Giáng sinh cho Mẹ. Cậu bé buồn bã lắc đầu " Vô ích thôi, dù rằng mình có nghĩ ra món quà gì, mình cũng không có tiền mà ."
Từ khi bố Andy mất 3 năm về trước, gia đình cậu bé suy sụp nặng nề. Ban đêm Mẹ cậu làm việc ở bệnh viện, nhưng với đồng lương ít ỏi chỉ đủ mấy mẹ con sống tạm qua ngày. Chúng còn nhỏ lắm, chẳng biết có nghĩ ra món quà gì để tặng Mẹ hay không. Thật không công bằng, bây giờ đã là chiều tối đêm Giáng sinh mà cậu bé vẫn ngồi đây, chẳng thể nghĩ được điều gì cả.
Chú chùi những giọt nước mắt, Andy đứng dậy đi xuống phố - nơi có rất nhiều cửa hàng. Cuộc sống thật khó khăn khi mà cậu bé mới 6 tuổi và không có bố, đặc biệt là khi mà người ta cần một người đàn ông để tâm sự. Andy đi từng cửa hàng này sang cửa hàng khác, nhìn vào từng cửa sổ rực rỡ một. Mọi thứ đều đẹp và ngoài khả năng của cậu. Trời đã bắt đầu tối, Andy buồn bã định quay về nhà thì bỗng nhiên cậu bé nhìn thấy một vật gì đó ánh lên trong tuyết. Andy cúi xuống: 1 đồng xu nhỏ bóng loáng dưới đất. Hẳn chưa ai có cảm giác được giàu có như là Andy cảm thấy vào lúc ấy.
Khi Andy nắm chặt "kho tàng mới nhặt được " của mình, cậu bé cảm thấy như có hơi ấm chạy qua cơ thể, và cậu mạnh dạn bước vào cửa hàng đầu tiên, niềm hân hoan của Andy ngay lập tức bị đóng băng lại khi từng nhân viên bán hàng bảo với cậu rằng chẳng thể làm gi với đồng xu nhỏ xíu đó. Cậu bé đi ra, nhìn thấy một của hàng hoa, Andy liều đứng lại xếp hàng
Khi người chủ cửa hàng hỏi Andy cần gì, cậu bé đưa một đồng u và e dè hỏi liệu mình có thể mua được 1 bông hoa tặng Mẹ trong đêm Giáng sinh với đồng xu nhỏ xíu này không, người chủ cửa hàng nhìn Andy, đặt tay lên vai cậu bé và nói :" Đợi một chút, con trai, để ta xem có thể làm gì cho con."
Khi đứng chờ, Andy ngắm những bông hoa tuyệt đẹp và cậu đã hiểu vì sao Mẹ cậu cũng như bao người phụ nữ khác lại thích hoa đến thế.
Tiếng đóng cửa sớm khi người khách cuối cùng rời khỏi cửa hàng đã đưa cậu quay về với hiện thực. Còn lại một mình trong cửa hàng, Andy bắt đầu cảm thấy cô đơn và hoảng sợ. Bỗng người chủ cửa hàng lại đi ra.
Trước mắt cậu bé là 12 bông hổng đỏ thắm, cuống dài, lá xanh cùng với những bông hoa gì đó trắng, nhỏ li ti, được bọc thành một bó có dây nơ màu bạc. Tim Andy ngừng một nhịp khi ông chủ cửa hàng đặt bó hoa vào một chiếc hộp trắng và bảo: "Tất cả là một đồng xu, con trai."
Andy chậm chạp đặt đồng xu vào tay ông chủ cửa hàng. Không thể là thật được! Không ai bán cho cậu cái gì với một đồng xu đâu ! Nhận thấy sự băn khoăn trên mặt cậu bé, ông chủ cửa hàng giải thích: " May mắn là ta có mấy bông hoa bán với giá một đồng xu một bó. Con trai có thích không ? "
Lần này thì Andy không ngần ngại nữa. Ra khỏi cửa hàng, Andy nghe thấy tiếng ông chủ nói với theo :" Giáng sinh vui vẻ, con trai ."
Khi ông chủ cửa hàng quay vào trong nhà, vợ ông hỏi :"ông vừa nói chuyện và đem hoa cho ai thế ?" Nhìn qua cửa sổ và chớp chớp mắt để ngăn không cho nước mắt trào ra, ông chủ cửa hàng khẽ nói :" Một điều thật lạ lùng đã xảy ra. Sáng nay, khi tôi chuẩn bị mở cửa hàng, tôi có cảm giác như ai đang mách bảo mình để sang bên cạnh 12 bông hoa hồng thật đẹp vì đó sẽ là món quà đặc biệt. Tôi đã nghĩ là mình đã tưởng tượng ra, thế nhưng tôi vẫn cứ để 12 bông hồng ra một chỗ. Và ngay lúc nãy, một cậu bé vào cửa hàng và muốn mua hoa để chúc Giáng sinh cho Mẹ chỉ với 1 đồng xu. Nhìn vào cậu bé, tôi thấy tôi của nhiều năm về trước. Tôi đã là một đứa trẻ nghèo khổ không biết mua gì cho Mẹ vào đêm Giáng sinh.
Một người qua đường đã cho tôi 10 dolla không vì lý do gì. Khi tôi nhìn thấy cậu bé tối hôm nay, tôi biết người đã mách bảo tôi là ai....
Tối Giáng sinh ấy, cả gia đình người chủ cửa hàng hoa và cả gia đình Andy nữa, không ai cảm thấy lạnh chút nào....
MỘT LỜI ĐỘNG VIÊN
Lại thêm một ngày tối tăm. Tôi từ trường về nhà, thay quần áo và chuẩn bị đi làm. Tôi vừa làm thu ngân, vừa làm người sắp chỗ, vừa chạy bàn cho một cửa hàng nhỏ trong thị trấn.
Tôi đi làm với cảm giác thất vọng và trống rỗng. Và mọi chuyện còn tồi tệ hơn khi tôi chạy bàn vào tối hôm ấy. Ngày nào cũng làm những việc giống nhau, lặp đi lặp lại. Tiếp xúc với những khách hàng luôn luôn phàn nàn và kêu ca về đồ ăn, về chỗ ngồi, về miếng bánh của họ quá to hay quá nhỏ. Những điều vụn vặt như vậy có thể làm cho tất cả chúng tôi khó chịu, nhưng chúng tôi đều phải học cách chịu đựng. Có thể có những lúc bực mình, nhưng vẫn phải quen với nó. Tôi biết là tôi phải quen.
Ba người phụ nữ đứng tuổi vào cửa hàng và ngồi ở chiếc bàn ngay cạnh cửa sổ. Chỗ đó ngay lối đi tôi chạy đi chạy lại và mang bát đĩa bẩn vào bồn. Tôi phải chạy bàn từ lúc năm giờ chiều, chúng tôi rất đông khách vào lúc đó. Tôi cố để kịp dọn những chiếc bàn bẩn thật nhanh, người ra vào cửa hàng và nhân viên phục vụ đi lại khắp cửa hàng. Tuy nhiên, những người phụ nữ này lại để ý tôi đang chạy đi chạy lại và làm việc chăm chỉ để đảm bảo bàn được lau dọn sạch sẽ, sẵn sàng cho những khách tiếp theo. Khi họ ăn xong, tôi ra dọn đĩa của họ mang vào bếp. Họ hỏi chuyện tôi một chút về trường học, về công việc tôi đang làm, về những kế hoạch tôi đã đặt ra cho tương lai.
Khi chuẩn bị rời cửa hàng, lúc bước qua tôi, một trong số họ đã nói với tôi bằng một giọng nói dịu dàng và chắc chắn: “Cháu sẽ ổn thôi”. Và đó là tất cả những điều bà muốn nói. Họ rời cửa hàng và để lại cho tôi niềm kính trọng vô bờ. Tôi đã rơi nước mắt, bởi chính họ đã cho tôi niềm tin vào bản thân. Họ đã xốc lại tinh thần cho tôi khi tôi thấy thất vọng; họ cho tôi niềm tin để tôi tiếp tục làm việc thật tốt và cố gắng hết mình.
Mọi người vẫn bảo rằng tôi không thể kiếm được một công việc ở Đài Truyền hình nếu tôi chưa có bằng đại học. Hiện nay, tôi đang làm giám đốc điều hành một kênh truyền hình dành cho sinh viên. Tôi vừa mới hoàn thành khóa thực tập ở một kênh truyền hình địa phương hồi hè vừa rồi. Điều tuyệt vời nhất là tôi mới chỉ có mười bảy tuổi, và tôi vẫn đang là học sinh trung học.
Khuyết danh
CUỘC SỐNG GIẢN ĐƠN
Bố mẹ tôi luôn trân trọng nhau, yêu thương sáu đứa con của họ và đề cao lòng chung thủy. Họ cố gắng sống thật ngăn nắp để có nhiều thời gian làm những việc mà họ cho là quan trọng nhất.
Họ không bận tâm đến việc phải mua một căn nhà lớn hơn, vì điều đó có nghĩa là phải làm một công việc vất vả hơn để trả tiền cho ngân hàng, phải làm thêm giờ hay làm thêm việc gì khác. Vậy thì ai sẽ chạy bộ cùng tôi? Ai sẽ đọc truyện cho tôi nghe?
Họ cũng không bận tâm đến việc phải mua một chiếc xe đắt tiền, vì điều đó có nghĩa là phải làm việc và lo lắng về những hóa đơn lắp đặt. Thay vì điều đó, bố đưa tôi đi mua sắm vào mỗi chiều thứ Bảy để có thể vừa tập thể dục, lại vừa khiến tôi cảm thấy mình thật đặc biệt.
Một trong những niềm vui của tôi là mỗi đêm được thấy bố và mẹ trên giường ngủ, sau lời cầu nguyện mỗi buổi tối của cả nhà. Khi tắt đèn, tôi thấy bóng cha đang ngồi trên chiếc ghế đã cũ, và mẹ thì đang đứng bên cạnh bố, nhẹ nhàng bóp vai cho người. Tôi đã nghe thấy cha mẹ nói về những chuyện đã xảy ra trong ngày. Dù chỉ là một đứa trẻ, tôi cũng cảm thấy niềm vui lặng lẽ của hai người khi họ ở bên nhau.
Hôm nay, tôi tự hỏi: Cha mẹ tôi có thể làm được những việc ấy và nuôi dưỡng tình cảm vợ chồng hay không nếu như họ bận rộn nào là chuyện ăn mặc cho chính mình và cho con cái? Hay nếu như họ phải lo lắng về những hóa đơn hàng tháng về dịch vụ công nghệ thông tin. Tôi nghĩ là không. Và tôi cũng đã thấy một lựa chọn của mình: tôi không thích một cuộc sống đầy lo âu như vậy.
Khuyết danh
CHIẾC HŨ
Từ hồi mà tôi có thể nhớ được, có một chiếc hũ lớn được đặt trên sàn ngay cạnh chiếc bạn trang điểm trong phòng ngủ của bố mẹ tôi. Khi chuẩn bị đi ngủ, bố dốc sạch tiền trong túi và ném những đồng xu vào trong chiếc hũ đó.
Một đứa trẻ như tôi luôn luôn thấy thích thú với những âm thanh do những đồng xu phát ra khi chúng rơi vào chiếc hũ. Khi chiếc hũ còn trống rỗng, những đồng xu rơi vào trong đó với những tiếng leng keng vui tươi. Sau đó, tiếng động của nó giảm dần và chuyển thành tiếng bịch bịch mờ đục. Tôi thường ngồi xổm trên sàn ở ngay trước chiếc hũ và ngưỡng mộ những đồng xu bằng bạc hay bằng đồng lấp lánh giống như một kho báu của cướp biển khi ánh mặt trời chiếu qua cửa sổ phòng ngủ.
Khi chiếc hũ đầy, bố tôi ngồi bên bàn trong bếp và bọc những đồng xu lại trước khi mang chúng đến ngân hàng. Đem những đồng xu này đến ngân hàng luôn luôn là một sự kiện lớn. Được xếp đống gọn gàng trong một chiếc hộp các-tông nhỏ, những đồng xu được đặt giữa tôi và bố trên chỗ ngồi trong chiếc xe tải đã cũ. Mỗi lần, và lần nào cũng vậy, khi lái xe đến ngân hàng, bố thường nhìn tôi với ánh mắt tràn đầy hy vọng. “Những đồng xu này sẽ giúp con rời khỏi nhà máy dệt này, con trai ạ. Con sẽ phải làm được điều gì đó tốt hơn bố. Thị trấn nhỏ cũ kỹ này sẽ không thể giữ con lại được". Và lần nào cũng thế, khi ông đẩy chiếc hộp đầy những đồng xu qua quầy tính tiền đến người thu ngân, ông lại cười tự hào và nói: “Chỗ này là tiền quỹ cho con tôi học đại học. Nó sẽ không phải làm việc suốt đời tại nhà máy như tôi”.
Ông cũng luôn luôn chúc mừng mỗi lần gửi tiền này bằng cách dừng lại và mua kem ốc quế. Tôi luôn ăn kem sô-cô-la, còn bố thì luôn ăn kem vani. Khi người bán hàng ở quán kem đưa cho bố tiền lẻ, ông đưa cho tôi vài đồng kẹp trong bàn tay ông. “Khi nào về nhà, chúng ta lại tiếp tục đổ đầy tiền xu vào trong hũ”.
Bao giờ ông cũng để cho tôi vứt những đồng xu đầu tiên vào trong chiếc hũ rỗng. Khi chúng rơi lách cách với tiếng leng keng vui tươi và ngắn gọn, chúng tôi cùng nhìn nhau và cười tươi tắn. “Con sẽ đến trường bằng những đồng xu, bằng những đồng tiền kẽm, bằng những đồng tiền 25 xu này”, ông nói. “Nhưng con sẽ phải đến đó. Bố muốn thấy điều đó”.
Nhiều năm trôi qua, và tôi tốt nghiệp đại học và làm việc ở một thị trấn khác. Một lần, khi về thăm bố mẹ, tôi dùng điện thoại trong phòng ngủ của họ, và nhận thấy chiếc hũ đó không còn nữa. Nó đã hoàn thành sứ mệnh và đã được mang đi. Tôi cảm thấy nghẹn ngào khi nhìn vào chỗ bên cạnh chiếc bàn trang điểm, nơi luôn luôn có chiếc hũ ở đó. Bố tôi rất ít nói, và ông không bao giờ giảng giải cho tôi về những giá trị của lòng quyết tâm, sự kiên nhẫn hay niềm tin. Chính chiếc hũ đã dạy tôi tất cả những bài học đó nhiều hơn những lời nói hoa mỹ nhất có thể dạy được.
Khi tôi kết hôn, tôi nói với vợ tôi là Susan về phần cuộc sống đầy ý nghĩa, một chiếc hũ tầm thường đã góp phần quan trọng như thế nào trong đời tôi từ khi tôi còn là một đứa trẻ. Trong tâm hồn mình, nó hơn tất cả mọi thứ khác, nó được định nghĩa là tình yêu bao la mà bố dành cho tôi. Dù mọi việc khó khăn đến đâu khi về nhà, bố cũng tiếp tục bỏ những đồng xu vào trong hũ. Thậm chí trong mùa hè, khi bố nghỉ việc ở nhà máy, mẹ phải nấu đậu khô đến vài bữa một tuần, thì vẫn không một đồng xu nào được lấy ra khỏi hũ. Ngược lại, khi bố nhìn tôi qua bàn ăn, bố rưới nước xốt cà chua vào đĩa của tôi để cho những hạt đậu ấy mềm hơn, ông lại càng quyết tâm muốn cho tôi thoát khỏi nơi này. “Khi con học xong đại học, con trai ạ”, ông nói với tôi, đôi mắt ông sáng long lanh, “Con sẽ không bao giờ phải ăn đậu một lần nào nữa, trừ phi con thích”.
Giáng sinh đầu tiên sau khi con gái tôi, Jessica ra đời, chúng tôi về nhà nghỉ lễ với bố mẹ. Sau bữa tối, bố mẹ tôi ngồi cạnh nhau ở trên ghế trường kỷ, thay nhau ẵm đứa cháu nội đầu tiên. Jessica bắt đầu khóc thút thít, và Susan phải bế nó từ tay Bố, “Chắc là nó cần thay đồ rồi”, cô nói, và bế đứa bé vào phòng bố mẹ tôi để thay tã cho nó.
Khi Susan trở vào phòng khách, trong đôi mắt cô có vẻ gì đó rất lạ. Cô đưa Jessica cho bố bế trước khi nắm tay tôi và lặng lẽ đưa tôi vào trong phòng. “Anh nhìn kìa”, cô nói nhỏ, trong khi mắt cô hướng tôi về chỗ bên cạnh bàn trang điểm. Tôi vô cùng ngạc nhiên, chiếc hũ lại đứng đó, như là chưa bao giờ nó được rời đi, ở dưới đáy hũ đã có những đồng xu.
Tôi bước đến chỗ chiếc hũ, cho tay vào túi và lấy ra một nắm đồng xu. Với tất cả những cảm xúc đang khiến tôi nghẹn ngào, tôi bỏ những đồng xu vào trong hũ. Tôi ngước nhìn lên và thấy bố, đang bế Jessica, đã im lặng bước vào trong phòng tự lúc nào. Mắt chúng tôi lảng đi, và tôi biết, ông cũng đang có những cảm xúc giống như của tôi. Không ai trong chúng tôi nói nên lời…
ĐỒ TRANG SỨC CỦA CORNELIA
Đó là một buổi sáng rực rỡ tại thành phố Rome cổ đại từ nhiều thế kỷ trước. Tại một ngôi nhà hóng mát được che phủ bằng giàn nho trong một khu vườn xinh đẹp, có hai cậu bé đang đứng. Chúng đang nhìn mẹ và bạn của bà; họ đang đi dạo giữa cây và hoa.
“Đã bao giờ anh nghĩ rằng cái cô xinh đẹp kia là bạn của mẹ mình không?” Cậu em hỏi, trong khi đang nắm tay cậu anh cao lớn. “Trông cô ấy cứ như nữ hoàng ấy”.
Cậu anh trả lời em: “Nhưng cô ấy không đẹp bằng mẹ. Đúng là cô ấy mặc một chiếc váy rất đẹp, nhưng khuôn mặt cô ấy không quý phái và phúc hậu. Chính mẹ mình trông mới giống một nữ hoàng.
Cậu em nói: “Đúng vậy, không có một người phụ nữ nào ở Rome trông giống một nữ hoàng bằng mẹ yêu quý của chúng ta”.
Ngay lúc đó, Cornelia, mẹ của lũ trẻ, đi đến đó để nói chuyện với chúng. Bà ăn mặc rất đơn giản với một chiếc áo choàng màu trắng trơn. Tay chân bà để trần, cũng giống như ngày thường – tay bà không đeo nhẫn, cổ bà chẳng có dây chuyền. Vương miện duy nhất của bà, một bím tóc tết mái tóc nâu mềm mại cuộn lại trên đầu – và một nụ cười dịu dàng tỏa sáng trên khuôn mặt quý phái khi bà nhìn vào những đôi mắt tự hào của hai cậu con trai.
“Các con trai” - Bà gọi. “Mẹ cần phải nói với các con điều này”.
Chúng cúi đầu trước mặt mẹ, như những chàng trai ở Rome được dạy làm điều đó, và nói: “Điều gì vậy, thưa mẹ?”
“Hôm nay các con sẽ ăn tối với bọn mẹ, ngay trong khu vườn này – và sau đó bạn của chúng ta sẽ cho chúng ta thấy tráp đựng đồ trang sức tuyệt đẹp mà các con đã được nghe đến rất nhiều.”
Hai anh em bẽn lẽn nhìn cô bạn của mẹ. Chẳng lẽ cô ấy vẫn còn những chiếc nhẫn khác nữa ngoài những chiếc mà cô ấy đang đeo trên tay? Chẳng lẽ vẫn còn những hạt ngọc khác ngoài những hạt đang lấp lánh trên chiếc dây chuyền đeo trên cổ cô ấy?
Khi bữa ăn đơn giản ngoài trời kết thúc, một người hầu đem chiếc tráp từ trong nhà ra. Người phụ nữ mở nó ra. A, những đồ trang sức đó đã làm lóa mắt hai cậu bé đang ngạc nhiên! Đó là những chuỗi ngọc trai trắng như sữa, và bóng mềm như lụa – những hạt ngọc ruby sáng chói, đỏ rực như những viên than đang nóng đỏ - những viên saphia xanh như bầu trời trong ngày hè ấy – và những viên kim cương sáng lấp lánh như ánh nắng mặt trời.
Hai anh em nhìn rất lâu vào những viên đá đó, cậu ấy thì thầm: “Giá như mẹ mình có những thứ tuyệt đẹp như thế này nhỉ!”
Cuối cùng thì chiếc tráp cũng được đóng lại và được mang đi cẩn thận.
“Vậy là đúng hả Cornelia? Là cậu không có đồ trang sức?” - Cô bạn bà hỏi. “Có đúng không, như tôi nghe người ta nói, rằng cậu rất nghèo?”
“Không, tớ không nghèo” - Cornelia trả lời, và trong khi nói bà kéo hai cậu con trai đến bên cạnh mình. “Vì đây là những đồ trang sức của tớ. Chúng đáng giá hơn những viên ngọc của cậu rất nhiều.”
Hai cậu bé không bao giờ quên sự tự hào, tình yêu và sự quan tâm của mẹ - và sau đó nhiều năm, khi họ tở thành những người vĩ đại thành Rome, họ thường nghĩ về chuyện xảy ra trong khu vườn ấy. Và cả thế giới vẫn muốn nghe câu chuyện về những đồ trang sức của Cornelia.
ÁNH NẮNG TRONG MỘT NGÀY MƯA
Đã bao giờ bạn phải trải qua một ngày mà mọi thứ đều tồi tệ, và hầu như chẳng có điều gì xảy ra đúng như bạn muốn? Không lâu trước đây, tôi đã có một ngày như thế. Tôi đã thất vọng, kiệt sức và buồn bực vô cùng. Mọi thứ mà tôi nghĩ đến là tôi, tôi, và tôi. Trên hết, không ai khác hiểu được những cảm giác mà tôi đã từng trải qua.
Tôi đã nói cho mẹ biết về trạng thái chán nản của tôi, mong là sẽ được mẹ chia sẻ. Thay vì như vậy, mẹ tôi đã nói “Mẹ nghe nói là Jamie cũng phải trải qua một ngày khó khăn như con vậy. Sao con không làm cho bạn áý một ít bánh và chiều nay chúng ta sẽ mang đến cho bạn ấy?”
Tôi thực sự không muốn làm như thế, nhưng tôi cũng quyết định sẽ tạm thời quên đi mọi vấn đề khác đi. Tôi làm bánh quy và xếp chúng ra đĩa. Rồi tôi làm một tấm thiệp có hình một bông hoa hướng dương và viết một bức thư ngắn đầy sự cảm thông.
Chiều hôm ấy chúng tôi ghé qua nhà Jamie. Tôi đi đến cửa và nhấn chuông. Jamie nhanh chóng ra mở cửa và nhìn tôi rất ngạc nhiên vì tôi đã ghé thăm bất ngờ. Trước khi bạn ấy nói bất cứ điều gì, tôi đã vội nói trước: “Tớ nghe nói là cậu đã phải trải qua một ngày rất tồi tệ và tớ quyết định mang cho cậu một thứ. Tớ mong là ngày hôm nay của cậu sẽ trở nên tốt hớn.” Cảm xúc của Jamie lúc đó được hiện lên nét mặt của cậu ấy nhưng tôi không bao giờ có thể tả được bằng lời. Có vẻ như bầu trời tối tăm đã bừng sáng với những tia mặt trời sáng rực; có vẻ như nhờ một hành động nhỏ như vậy, một ngày của cậu ấy đã bừng sáng trở lại.
Tôi trở lại xe và vì một lý do nào đó, tôi cũng cảm thấy tốt hơn rất nhiều. Ngày hôm đó tôi đã hiểu ra một điều mà James Barrie đã từng nói: “Những người đem ánh sáng đến đến cho người khác cũng sẽ nhận được ánh sáng mà mình đã đem lại”.
MỘT NGỌN LỬA NHỎ
Một người bạn đã mời tôi đến ăn bữa tối tân gia. Ngay trước khi tôi đến, cậu ấy đã thử cái lò sưởi ga, và đã khiến cho vật cách ly trên gác mái bốc cháy.
Khi tôi tới đó, mái nhà đang cháy bừng bừng, những ống cứu hỏa đang làm việc, và mọi người đang đứng xung quanh xem đám cháy. Bạn tôi trong thấy tôi và lên tiếng giải thích rằng bữa tối đã tiêu tan theo đám cháy. Một phụ nữ với con gái nhỏ đứng đó, nghe cậu ấy và nói: “Tôi và con gái cũng đang chuẩn bị đi ăn tối. Chúng tôi có hai vé mời miễn phí tới nhà hàng này, nhưng tôi muốn tặng hai bạn. Chúa phù hộ hai bạn”.
Tôi và bạn tôi rất cảm động mà không thể nói nên lời cho đến khi người ấy đi. Sự hào phóng của và những hàng động quan tâm thực sự tới những người lạ đã khiến cho hai chúng tôi thấy hạnh phúc hơn rất nhiều.
LUÔN Ở ĐÓ
Thành phố New York, một ngày hè nóng nực. Tôi vội vã chạy đến chỗ làm ở Upper West Side vì sợ muộn.
Khi đi qua một công viên, tôi nghe thấy tiếng một phụ nữ đang thổn thức. Tôi nghe thấy giống như tiếng than vãn hơn, như thể người phụ nữ ấy đã khóc vì nỗi đau nào đó. Âm thanh đó gây chú ý đến nỗi làm cho tôi ngay lập tức dừng lại trên đường để tìm hiểu xem tiếng khóc ấy phát ra từ đâu.
Sau đó, tôi đã để ý thấy một người phụ nữ vô gia cư khoảng năm mươi tuổi. Ngay cạnh bà là một thương nhân trẻ đang ngồi trên ghế. Người phụ nữ vô gia cư vươn tay ra và ôm lấy thương nhân trẻ đó. Lúc đầu, người đàn ông này trông có vẻ sợ hãi. Nhưng sau đó, khuôn mặt anh dịu lại và cũng vươn tay ra ôm lấy người phụ nữ thật chặt. Tôi biết tôi đã được chứng kiến một câu chuyện rất hay. Đây chính là điều mà cuộc sống luôn vươn tới.
VỊ THẨM PHÁN
Hồi cuối những năm tám mươi thế kỷ trước, tôi vừa mới hoàn thành chương trình đào tạo một năm dành cho trường Kỹ thuật địa phương.
Tôi nhanh chóng đi phỏng vấn tìm việc làm. Và ngay trong lần phỏng vấn đầu tiên tôi đã được nhận. Tôi phải mặc áo vét và đeo cà-vạt suốt ngày. Có lẽ khi tôi phát phì, tôi sẽ không có đồ gì để mặc.
Cha một người bạn tốt của tôi đã nghỉ hưu, dạo trước ông làm tại Tòa án Nhân dân Quận của Liên bang. Bạn tôi dẫn tôi đến gặp ông. Ông đưa tôi mấy đồng một trăm đô trong bộ đồ lấy từ trong phòng riêng của ông. Tôi từ chối, rằng tôi không bao giờ có thể trả lại ông. Ông nói: “Cháu sẽ trả được, chú tin rằng cháu có thể làm được điều gì đó cho mình. Và đến khi cháu đã làm tốt cho mình rồi, và cháu thấy người khác cần được giúp đỡ, thì hãy giúp đỡ họ. Cháu sẽ quý trong những ký ức về chúng trong suốt phần đời còn lại”.
TÌNH YÊU VÀ LÒNG KHOAN DUNG
Đứa con gái ba tuổi của tôi đã cho tôi thấy niềm hạnh phúc khi được chia sẻ với người khác.
Một lần, mẹ con tôi đi mua sắm vào Treat Day (Ngày thứ Sáu). Nó chọn ra “bữa tiệc của mình” và để ý thấy một cậu bé trai đang đòi mẹ nó mua cho một thanh sô-cô-la. Mẹ của cậu bé nói họ chỉ có đủ tiền mua bánh mì và sữa. Con gái tôi quay sang hỏi tôi là có thể mua cho cậu bé kia một thanh sô-cô-la không. Tất nhiên rồi, chắc chắn là tôi không thể từ chối yêu cầu của cô con gái nhỏ. Gương mặt nó bừng sáng với một nụ cười khi nó đưa thanh sô-cô-la cho cậu bé, người mà nó không hề quen biết, diều này đã khiến tôi gần như bật khóc ngay ở tại cửa hàng.
Đôi khi tôi nghĩ rằng có thể con cái chúng ta mới nên là những người vận hành thế giới này.
Ông đã nói đúng. Tôi đã trải qua những lúc như vậy, đã làm như ông nói nhiều hơn một lần và quý trong từng ký ức.
THỨC ĂN CHO NHỮNG NGƯỜI THẤT NGHIỆP
Cách đây gần một năm, tôi đã thất nghiệp trong vòng ba tháng, không có thu nhập, không có thức ăn! Một người mẹ với đứa con gái mười một tuổi.
Tôi không có tiền để trả cho bà chủ nhà nhưng cuối cùng bà lại quyết định xem xét lại cho chúng tôi. Bà nói: “Tôi không thể để cô đi mà không tìm được một chỗ nào đó để ở!”
Tôi không biết nhiều về người phụ nữa này, và bà cũng chẳng có lý do gì để giúp đỡ mẹ con tôi, nhưng bà tin rằng ai cũng chỉ là một đứa con của Chúa và không những cho chúng tôi ở lại, bà còn nuôi chúng tôi, không chỉ bằng thức ăn mà bằng tình yêu, bằng quần áo, điện nước, thời gian và những hỗ trợ của riêng bà - tất cả những thứ cần thiết cho cuộc sống của tôi.
Tôi phải chân thành mà nói rằng chính nhờ có sự kiên nhẫn và tính quả quyết của bà mà tôi có thể tiếp tục cố gắng. Giờ đây tôi đã có việc làm sau… 104 lần phỏng vấn. Tôi đã làm việc được chín tháng và bà vẫn tiếp tục liên lạc với tôi để chắc chắn là tôi vẫn ổn (vì tôi làm việc theo một hợp đồng).
MỘT GIA ĐÌNH TÁCH BIỆT
Chúng tôi đứng bên cạnh chiếc xe cũ kỹ của tôi, hết xăng, hết tiền. Còn 3 dặm nữa là đến nhà và năm dặm nữa mới đến trạm xăng gần nhất. Đứa con gái mười tuổi của tôi cố an ủi tôi đừng lo lắng nữa. Chúng tôi có thể đem theo hàng tạp phẩm và đi bộ về nhà, nhưng sau khi đi mua hàng ở bách hóa, chân tôi đã đau lắm rồi. (Khi tôi mới sinh ra là vào hồi những năm năm mươi, có dịch bệnh bại liệt và tôi là một trong những đứa trẻ bị ảnh hưởng bởi căn bệnh đó.)
Chúng tôi đã từng sống ở sa mạc trong vòng hai năm mà không có điện hay nước lọc, và cũng không có cả tiền. Tôi cố gắng nghĩ xem có thể quay trở lại cửa hàng với chỗ xăng còn lại trong xe không. Tôi đã sai và đã vô phương suy nghĩ.
Sau mười phút có một chiếc xe khác dừng lại. Trong xe là một gia đình người thổ dân Mỹ sống cách nhà tôi một vài dặm đường. Những người này luôn luôn tách biệt và không tiếp xúc với những người khác trong vùng và thậm chí có vẫy tay họ cũng không thèm để ý.
Người vợ đi ra khỏi xe và hỏi chúng tôi có cần giúp đỡ không. Tôi giải thích là xe tôi hết xăng và tôi cũng chẳng có tiền để mua. Cô vợ ấy quay về xe của mình và chiếc xe quay trở lại con đường cũ. Rồi khoảng hai mươi phút sau, họ mang về 5 gallon xăng. Tôi nói với họ là tôi không có tiền để trả họ tiền mua xăng. Cô vợ ấy nói: “Tôi đã nghe chị nói vậy lúc nãy rồi.” Và họ giúp tôi khởi động chiếc xe và đưa tôi về tận nhà chỉ trong vài phút.
Tôi cố thật nhanh để đến chỗ họ và đưa trả họ tiền, nhưng họ đã đi xa. Tôi không thể trả họ về những điều tốt đẹp họ dành cho tôi, tôi cũng không hề thay đổi suy nghĩ của tôi, rằng họ là người khác biệt và ít để tâm đến người khác. Nhưng bất cứ khi nào có thể, tôi luôn luôn cố gắng giúp đỡ người khác trên con đường tôi đi và trong suốt cuộc đời tôi, bao giờ tôi cũng nhớ đến họ.
MỘT TÁCH CÀ PHÊ
Cuộc sống của tôi bắt đầu cũng giống như của những anh chị em khác trong gia đình, với một người mẹ luôn luôn cố gắng làm tất cả mọi việc trước khi mẹ rời bố. Đó là gia đình tôi, chúng tôi đã lớn lên mà không biết bố là gì, và không biết đến sự dạy dỗ khuyên bảo của người cha.
Do vậy, tôi đã rơi vào cạm bẫy của rượu và ma túy, và tôi sống như trẻ lang thang trong vòng bảy năm và sau đó tôi được đưa vào trường phục hồi chức năng xã hội. Ở đó, tôi đã gặp Bill, cố vấn của tôi, anh ấy đã dạy tôi rất nhiều điều. Điều quan trọng nhất là nghệ thuật cho và nhận.
Đó là một buổi tối trước một sự kiện quan trọng và tôi cảm thấy vô cùng hồi hộp. Bill đã nhận ra điều đó và rủ tôi đi dạo với anh. Khi chúng tôi vừa đi dạo vừa nói chuyện, Bill mời tôi đi uống cà phê. Tôi nói tôi đã nhẵn túi nhưng nếu anh trả tiền cà phê cho tôi, tôi sẽ trả lại anh. Anh dừng lại và nhìn tôi với một vẻ mặt nghiêm nghị nhưng tràn đầy yêu thương. Anh nói:
“Không, cậu sẽ không phải trả”.
Sau đó, anh nói tiếp với tôi rằng tôi không nợ tôi thứ gì hết, và anh đã làm như thế bởi vì anh có thể làm. Rồi anh nói với tôi về những điều tôi sắp phải trải qua. “Một ngày nào đó, em ở bên cạnh một người và họ cần một cốc cà phê, em có thể mua cốc cà phê ấy cho họ. Đấy là cách mà em sẽ trả tôi”
Giờ đây tôi đã là một công nhân trẻ, cuộc sống của tôi khác rất nhiều so với cách đây mười năm. Nghề nghiệp của tôi rất bình thường, tôi mua cà phê cho lũ trẻ. Bill đã dạy tôi phải làm điều đó như thế nào.
BÀI HỌC CỦA THẦY
Chúng tôi đứng ngoài hành lang lớp học nói chuyện với thầy giáo dạy môn tiếng Anh, không phải về việc học hành mà là về những vấn đề chung chung. Thầy nói chuyện với chúng tôi như thể chúng tôi đã là người lớn cả rồi. Cho dù, chúng tôi vẫn còn đang học năm cuối ở trường trung học.
Trong cuộc tranh luận, bạn tôi đã đưa ra một lời bình luận. Thế là thầy dừng cuộc nói chuyện một lúc và nói: “Thực ra, em nói rất giống một người bạn của tôi. Cậu ấy không bao giờ thích khi nghe thấy mọi người bị nói xấu, không bao giờ buộc tội ai nếu cảm thấy họ không thể tự bảo vệ mình bởi sự vắng mặt của họ.”
Tôi đã nuốt từng lời nói ấy của thầy, những lời đã thay đổi bản thân tôi. Từ ngày đó, lời của thầy in đậm trong tôi như một mệnh lệnh, khiến tôi không bao giờ nói xấu về bất kỳ ai. Khi có một lời đồn đại về ai đó, tôi không nghe và không lan truyền nó đi. Không phải vì tôi kiêu căng mà vì tôi tin rằng, bất cứ ai cũng cần được đối xử với lòng chân thành và lòng tin, cho đến khi có người chứng minh được điều ngược lại.
BÀI KIỂM TRA TÌNH YÊU
John Blanchard đứng dậy cạnh chiếc ghế dài, thẳng người với bộ quân phục và tìm kiếm trong đám đông đang đi lại trên Ga Trung tâm.
Anh đang tìm một cô gái mà anh mới chỉ biết tâm hồn chứ chưa biết mặt, cô gái cầm hoa.
Anh quan tâm đến cô từ mười ba tháng trước ở thư viện Florida. Anh cầm một cuốn sách khỏi giá và rất thích thú, không phải với từ ngữ trong sách mà với những ghi chú được viết bằng bút chì bên lề cuốn sách. Một nét chữ mềm mại biểu hiện một người có suy nghĩ chín chắn và một tâm hồn biết cảm thông.
Ngay trang đầu của cuốn sách, anh đã nhận ra tên của người mượn sách trước đó, cô Hollis Maynell. Sau bao nhiêu nỗ lựa và thời gian, anh cũng đã tìm thấy được địa chỉ của cô. Cô sống ở New York. Anh đã viết cho cô một bức thư tự giới thiệu mình và mong có hồi âm của cô. Ngày hôm sau, anh lên tàu ra nước ngoài phục vụ trong quân ngũ của Đệ nhị Thế chiến.
Trong suốt một năm và một tháng sau, hai người biết nhau nhiều hơn qua những bức thư. Mỗi bức thư là một hạt giống được gieo lên cánh đồng màu mỡ. Và một Chồi non mang tên Lãng mạn bắt đầu nảy nở.
Blanchard xin một tấm ảnh của cô gái, nhưng cô từ chối. Cô nói, nếu như anh thực sự quan tâm, thì bề ngoài của cô có ra sao cũng không phải là điều quan trọng.
Cuối cùng cũng đến ngày anh trở về từ chiến trường Châu Âu, họ đã sắp một cuộc hẹn đầu tiên - lúc 7 giờ tối ở nhà Ga Trung tâm, New York.
Trong thư cô viết: “Anh sẽ nhận ra tôi, tôi là người cài một bông hồng đỏ trên ve áo”.
Vì vậy, đúng 7 giờ tối, anh đến nhà ga và tìm cô gái có trái tim mà anh yêu quý dù chưa một lần gặp mặt.
Sau đây, chính Blanchard sẽ kể cho các bạn nghe câu chuyện của ngày hôm đó:
Một người phụ nữ trẻ đang tiến đến chỗ tôi, cô cao và thanh mảnh. Cô có mái tóc vàng xếp thành từng lọn xoăn ôm lấy đôi tai thanh tú, có đôi mắt xanh như những đóa hoa. Đôi môi và chiếc cằm của cô toát ra một vẻ cương nghị. Và trong bộ đồ màu xanh nhạt, nhìn cô như thể mùa xuân đang đến gần.
Tôi bắt đầu tiến lại gần cô, hoàn toàn không để ý là cô không hề cài bông hồng trên áo. Khi tôi tiến đến, trên môi cô nở một nụ cười rất tinh quái.
“Thưa ngài, hãy đi theo tôi?” - cô nói nhỏ.
Tôi gần như không tự kiểm soát được mình và bước từng bước theo cô, sau đó, tôi trông thấy Hollis Maynell. Bà đang đứng ngay phía sau cô gái. Đó là một phụ nữ ngoài 40 tuổi, mái tóc hoa râm của bà gấp lại phía dưới chiếc mũ cũ kỹ. Bà hơi đẫy đà quá, bà lại đang đi một đôi giày đế thấp. Cô gái trong bộ đồ xanh lá cây bước nhanh qua.
Tôi cảm giác như mình đang muốn phân thân, vừa muốn đi theo cô gái, vừa muốn được gặp người phụ nữ với tâm hồn đẹp, đã thực sự bầu bạn với tôi và luôn ủng hộ tôi.
Và bà đứng đó. Khuôn mặt đầy đặn của bà toát lên vẻ dịu dàng và hiểu biết, đôi mắt màu xám ánh lên những tia sáng ấm áp và chân thành. Tôi không chần chừ. Ngón tay tôi cứ giữ chặt cuốn sách bìa da màu xanh đã cũ sờn, nhờ cuốn sách mà tôi đã biết được bà.
Không phải là tình yêu, nhưng đây là một điều gì đó vô cùng quý báu, một điều gì đó còn hơn cả tình yêu, một tình bạn mà tôi vô cùng trân trọng. Tôi đứng thẳng lại và chào bà; tôi đưa cuốn sách cho người phụ nữ, tôi nói với bà, dù trong khi nói, giọng tôi cũng có nghẹn lại vì sự luyến tiếc và thất vọng:
“Cháu là trung úy Blanchard, cô chắc là Miss Maynell. Cháu rất vui là cô đã gặp cháu, cháu có thể mời cô đi ăn tối được không?”
Khuôn mặt người phụ nữ nở một nụ cười thông cảm. Bà trả lời:
“Tôi không biết đây là chuyện gì, con trai ạ, cô gái trong bộ đồ xanh kia vừa mới đi qua, cô ấy cầu xin ta cài bông hồng này lên áo choàng của ta. Và cô ấy nói nếu như cậu mời tôi đi ăn tối, tôi sẽ đến và nói với cậu răng cô ấy đang đợi cậu ở nhà hàng lớn bên kia đường. Cô ấy nói đây là một bài kiểm tra”.
Khuyết danh
NHỮNG LỜI CÁM ƠN
Chuyện diễn ra vài năm trước, khi tôi còn đi bộ để đưa con đến trường. Thật không may, chúng tôi lại sống gần bến xe buýt, nhưng cũng quá xa để cậu con trai học lớp Một có thể một mình đi bộ về nhà. Thế là theo thường lệ, vào mỗi buổi chiều, tôi cùng với đứa con gái nhỏ và cậu con trai còn đang ẵm ngửa đi bộ qua sáu khu nhà.
Một trong những buổi chiều như thế, trời bất chợt đổ mưa khi chúng tôi mới đi được nửa đường. Cậu con trai bé bỏng được tôi và cái chăn che cho khỏi ướt, còn tôi và con gái thì bị ướt như chuột lột.
Khi một chiếc ô tô dừng lại bên lề đường, trong đó chỉ có một người đàn ông lái xe, tôi thấy hoảng sợ và rảo bước càng nhanh. Người đàn ông nhận ra nỗi sợ hãi của tôi, ông bước ra khỏi xe (và ông cũng bị ướt), đưa cho tôi một chiếc ô, rồi ông trở lại xe và lái xe đi.
Hành động dù nhỏ nhoi nhưng vô cùng tuyệt vời này đã chứng minh cho tôi thấy rằng dù cho cuộc sống có hỗn độn đến đâu thì vẫn còn có những người dừng lại và giúp đỡ người khác. Người đàn ông đó không cần được người khác khen ngợi, hay không cần cố gắng thể hiện lòng tốt trước bất cứ ai hết. Ông chỉ tự mình làm một việc tốt mà không cần một động lực nào ngoài lòng tốt của ông.
Khuyết danh
Thấy bài cuối ko? thấy thì tự làm nghĩa vụ của mình đi nhá:y24::y24::y24::y24::y24::y24::y24::y24::y24:: y24::y24::y24::y24::y24::y24::y24::y24::y24: